Số tạp chí mới

Liên kết

Giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bến Tre

Đăng lúc: Thứ ba - 10/04/2018 06:32
(DNTM) Hoạt động khuyến công Bến Tre trong thời gian qua đã tranh thủ các nguồn vốn như khuyến công cấp quốc gia, khuyến công cấp tỉnh, vốn các chương trình mục tiêu và các nguồn vốn khác để hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư thực hiện các đề án/dự án.
Lễ tổng kết và trao chứng nhận sản phẩm CN-TTCN nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh và cấp khu vực. Ảnh: congthuongbentre.gov.vn

Lễ tổng kết và trao chứng nhận sản phẩm CN-TTCN nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh và cấp khu vực. Ảnh: congthuongbentre.gov.vn

Ngày càng phát triển
 
Theo Sở Công Thương Bến Tre, các đề án/dự án hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư thực hiện như Tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề theo nhu cầu của các cơ sở, doanh nghiệp để tạo việc làm và nâng cao tay nghề cho người lao động; Hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý doanh nghiệp, nhận thức và năng lực áp dụng sản xuất sạch hơn (SXSH) trong sản xuất công nghiệp; Hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật; chuyển giao công nghệ và ứng dụng máy móc tiên tiến, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất CN-TTCN; Tổ chức hội chợ triển lãm hàng CN-TTCN, Hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm, giới thiệu, quảng bá sản phẩm, tổ chức bình chọn sản phẩm CN-TTCN tiêu biểu cấp tỉnh và hỗ trợ sản phẩm CN-TTCN tiêu biểu cấp tỉnh tham gia bình chọn sản phẩm CN-TTCN tiêu biểu cấp khu vực, cấp quốc gia.
 
Ngoài ra, Trung tâm Khuyến công tỉnh đã hỗ trợ tư vấn trợ giúp doanh nghiệp CN-TTCN xây dựng dự án đầu tư và tư vấn SXSH để khuyến khích nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ ô nhiễm, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường nhằm bảo đảm cho các cơ sở công nghiệp nông thôn phát triển bền vững.
 
Bên cạnh đó, cung cấp thông tin về các chính sách phát triển công nghiệp, khuyến công, thông tin thị trường, phổ biến kinh nghiệm, mô hình sản xuất kinh doanh điển hình, SXSH trong công nghiệp, tiết kiệm năng lượng; Hỗ trợ lập quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp và hỗ trợ cãi tiến hệ thống xử lý nước thải cho doanh nghiệp CN-TTCN; Tổ chức hội nghị, hội thảo; Tham quan, học tập trao đổi kinh nghiệm về công tác khuyến công… 
 
Như trong giai đoạn 2011 – 2016, tổng kinh phí khuyến công hỗ trợ triển khai thực hiện các dự án, chương trình, kế hoạch trên địa bàn tỉnh đạt gần 17 tỷ đồng, bao gồm kinh phí khuyến công quốc gia; kinh phí khuyến công tỉnh và tranh thủ các nguồn khác: Dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn, Hợp phần SXSH trong công nghiệp và chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
 
Các dự án, chương trình cũng đã thu hút nguồn vốn đối ứng của các cơ sở CN-TTCN đầu tư trên 110 tỷ đồng để thực hiện các đề án, dự án.
 
Nhờ những bước đi tập trung, hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua đã dần đi vào nề nếp, số lượng các đề án/dự án, kinh phí hoạt động khuyến công hàng năm có tăng lên và mang lại lợi ích thiết thực cho việc khuyến khích phát triển CN-TTCN trên địa bàn tỉnh.
 
Đồng thời phù hợp với nhu cầu, khả năng tiếp nhận của đối tượng thụ hưởng và ngày càng nâng cao hiệu quả, góp phần hỗ trợ khó khăn về vốn cho đầu tư phát triển sản xuất của một số doanh nghiệp, cơ sở. Chính vì vây, mức độ ảnh hưởng, lan truyền của hoạt động khuyến công được nhiều cơ sở, doanh nghiệp CN-TTCN đánh giá khá tốt.
 
5 giải pháp nâng cao hiệu quả
 
Để đạt được những kết quả như trên, ngoài sự cố gắng tích cực của tập thể công chức, viên chức của Trung tâm Khuyến công, còn được sự quan tâm và hướng dẫn kịp thời của Bộ Công Thương, UBND tỉnh, Cục Công thương địa phương và đặc biệt là sự chỉ đạo sâu sát của Sở Công Thương, hoạt động khuyến công luôn hoàn tốt nhiệm vụ đề ra trên cơ sở bám sát mục tiêu, nhiệm vụ của ngành và cụ thể hóa các hoạt động bằng các chương trình, kế hoạch, đề án/ dự án để triển khai thực hiện được thuận lợi và mang lại hiệu quả.
 
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, hoạt động khuyến công của Bến Tre thời gian qua vẫn tồn tại một số khó khăn, hạn chế nhất định như quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện các đề án/dự án khuyến công ở giai đoạn đầu còn nhiều khó khăn lúng túng và tốn nhiều thời gian như: khảo sát, đánh giá, tư vấn, hướng dẫn và khả năng xây dựng, lựa chọn các đề án khuyến công có tính khả thi chưa được nhiều; chưa có kế hoạch đồng bộ hỗ trợ chuyển tiếp, nhân rộng sau khi thực hiện các đề án; định mức hỗ trợ còn khiêm tốn so với tổng chi phí đầu tư nên chưa khuyến khích các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất.
 
Đội ngũ làm công tác khuyến công chưa thật sự mạnh, năng lực chuyên môn còn một số hạn chế nhất định, gây ảnh hưởng đến hiệu quả công tác. Công tác thông tin tuyên truyền về chính sách và các hoạt động khuyến công tuy có quan tâm nhưng vẫn còn hạn chế, chưa đa dạng dẫn đến nhiều đối tượng thụ hưởng chưa tiếp cận đầy đủ thông tin và chính sách chính sách khuyến công của Trung ương, của tỉnh.
 
Phần lớn các cơ sở CN-TTCN trên địa bàn tỉnh Bến Tre nói chung hoạt động với quy mô vừa và nhỏ, chậm đổi mới ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến, phương thức đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, một số cơ sở CN-TTCN có dự án xin ngừng đầu tư và đề nghị hỗ trợ kinh phí khuyến công nhưng do tình hình tài chính khó khăn nên xin tạm dừng đầu tư hoặc chuyển sang năm sau gây ảnh hưởng đến kế hoạch triển khai thực hiện công tác khuyến công.
 
Từ những hạn chế nêu trên, để hoạt động khuyến công đạt hiệu quả cao hơn và là động lực thúc đẩy sự phát triển CN-TTCN, góp phần gia tăng giá trị sản xuất chung của ngành công thương tỉnh nhà trong thời gian tới, tỉnh Bến Tre đang và sẽ tiếp tục tập trung tăng cường vai trò công tác thông tin, tuyên truyền đến các đối tượng thụ chính sách khuyến công:  Phát hành bản tin, chuyên mục về chức năng, nhiệm vụ và các chính sách liên qua đến hoạt động khuyến công trên báo, đài, Website… để giúp các đối tượng thụ hưởng chính sách khuyến công nắm bắt thông tin kịp thời và đề xuất nội dung hỗ trợ phù hợp với chương trình khuyến công. Tăng cường cập nhật, trao đổi thông tin giữa hoạt động khuyến công cấp tỉnh với khuyến công cấp huyện, khảo sát thực tế tại cơ sở CN-TTCN để trao đổi, cung cấp và nắm bắt thông tin, những nhu cầu của các cơ sở để lựa chọn, xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng nội dung hoạt động khuyến công hàng năm nhằm triển khai thực hiện hiện mang lại hiệu quả cao; 
 
Đối với giải pháp về tăng cường quản lý nhà nước về khuyến công, rà soát lại cơ chế, chính sách đã ban hành để điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với thực tế của địa phương và phù hợp với các các văn bản pháp lý quy định cơ chế, chính sách về hoạt động khuyến công của Chính phủ, các Bộ, Ngành Trung ương; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu theo dõi, quản lý chương trình, kế hoạch, đề án, dự án khuyến công, đồng thời tăng cường hướng dẫn, kiểm tra giám sát việc thực hiện các hoạt động khuyến công.
 
Giải pháp về huy động các nguồn tài chính cho hoạt động khuyến công:  Chủ động, tranh thủ xin hỗ trợ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia hàng năm để triển khai thực hiện hoạt khuyến công; Bảo đảm cân đối bố trí kinh phí khuyến công hàng năm đáp ứng kịp thời nhu cầu hoạt động khuyến công để triển khai thực hiện một cách hiệu quả nhất; Tích cực tranh thủ tối đa các nguồn vốn khác kể cả kết hợp, lồng ghép với các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học công nghệ, chương trình phát triển ngành nghề nông thôn và nguồn vốn tài trợ hợp pháp theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động khuyến công.
 
Giải pháp về nguồn nhân lực, thị trường tiêu thụ sản phẩm cho cơ sở CN-TTCN: Về nguồn nhân lực, tăng cường tư vấn, hỗ trợ các cá nhân, tổ chức đầu tư vào sản xuất công nghiệp. Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn để trang bị kiến thức khởi sự doanh nghiệp, nâng cao kỹ năng quản trị doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh, phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế; nâng cao nhận thức về lợi ích áp dụng SXSH trong công nghiệp; Hàng năm tổ chức các cuộc đối thoại với các chủ doanh nghiệp để lắng nghe và giải quyết kịp thời các vướng mắc, khó khăn, tạo điều kiện cho hỗ trợ cơ sở phát triển sản xuất kinh doanh.
 
Về thị trường, đẩy mạnh hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất CN-TTCN tiến hành các hoạt động giới thiệu, quảng bá sản phẩm để củng cố thị trường trong nước, đồng thời luôn chú trọng hỗ trợ cho các doanh nghiệp tiến hành tìm hiểu, khảo sát thị trường ở nước ngoài thông qua việc tham gia các kỳ hội nghị, hội chợ, triển lãm để từ đó có những hoạt động giới thiệu, quảng bá sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm phù hợp.
 
Còn với giải pháp về hỗ trợ cải tiến, đổi mới công nghệ: Tăng cường tư vấn, hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất CN-TTCN tìm hiểu, hợp đồng mua máy móc, thiết bị công nghệ phù hợp để nâng cao năng lực sản xuất và phát huy tối đa hiệu quả việc sản xuất, kinh doanh của cơ sở; Khuyến khích hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ vào sản xuất công nghiệp nông thôn. Ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới, áp dụng công nghệ tiên tiến, xử lý chất thải, xử lý ô nhiễm môi trường, giải pháp SXSH trong công nghiệp.
 
Thơm Nguyễn
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline : 0913535939