Số tạp chí mới

Liên kết

Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Thực trạng và giải pháp phát triển công nghiệp theo hướng bền vững

Đăng lúc: Thứ sáu - 06/09/2013 11:10
(DNTM) Vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) Bắc bộ là một trong bốn vùng kinh tế trọng điểm có ý nghĩa tạo động lực, lôi kéo các vùng khác cùng phát triển; đồng thời là vùng có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội nước ta.
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ

Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ

Trong thời gian qua, công nghiệp trong vùng bước đầu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, so với tiềm năng, lợi thế, vai trò động lực của Vùng và quan điểm phát triển bền vững thì những kết quả trên còn chưa đáp ứng được yêu cầu.
Phát triển nhanh, đóng góp lớn
Trong giai đoạn 2001-2010, ngành công nghiệp của vùng KTTĐ là đầu tàu tăng trưởng kinh tế, với tốc độ tăng nhanh, đóng góp lớn cho tăng trưởng toàn vùng. Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp (GO) của vùng giai đoạn 2001-2010 đạt 17,2%, đứng thứ hai trong số các vùng KTTĐ, gấp 1,14 lần so với tốc độ tăng của cả nước. Tỷ trọng trong GDP của công nghiệp tăng từ 37,1% năm 2000 lên 45,5% năm 2010.
Tính đến cuối tháng 6-2011, vùng KTTĐ Bắc bộ có 54 KCN được thành lập, chiếm 20% KCN trong cả nước với tổng diện tích đất tự nhiên là 13.670 ha, tỷ lệ lấp đầy KCN là 44%. Các KCN trong Vùng đã hút hút được 861 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký 15.038 triệu USD, chiếm 26,5% cả nước; gấp 15 lần vùng KTTĐ miền Trung, bằng 40,5% của vùng KTTĐ phía Nam và gấp 70 lần vùng KTTĐ Đồng bằng sông Cửu Long. Tổng vốn đầu tư thực hiện thời gian qua tại các KCN vùng KTTĐ Bắc bộ chiếm 28% cả nước, gấp 3,2 lần vùng KTTĐ miền Trung, bằng 19,6% của vùng KTTĐ Phía Nam và gấp 21 lần vùng KTTĐ Đồng bằng sông Cửu Long.
 Trong 6 tháng đầu năm 2011, doanh thu của các KCN trong vùng KTTĐ Bắc bộ đạt hơn 7200 triệu USD, chiếm khoảng 35% tổng doanh thu các KCN cả nước. Giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN trong vùng đạt khoảng 4300 triệu USD (chiếm 40% tổng giá trị xuất khẩu của các KCN cả nước). Giá trị nhập khẩu của các doanh nghiệp KCN trong vùng đạt khoảng 3700 triệu USD, các doanh nghiệp KCN trong vùng nộp ngân sách khoảng 213 triệu USD (chiếm 44% so với tổng số nộp ngân sách của các KCN cả nước). Tính đến tháng 6/2011, các KCN vùng KTTĐ Bắc bộ đã giải quyết việc làm cho khoảng 380.000 lao động trực tiếp và 500.000 lao động thời vụ.
Phát triển nhanh nhưng thiếu bền vững
Mặc dù trong các năm qua, công nghiệp vùng KTTĐ Bắc bộ đạt được mức tăng trưởng cao, tuy nhiên với vai trò là vùng động lực phát triển của cả miền Bắc và cả nước thì tăng trưởng công nghiệp của vùng vẫn còn một số hạn chế.
(1) Chưa có đột phát trong tăng trưởng công nghiệp.
Tốc độ tăng GO công nghiệp của vùng còn thấp hơn so với tốc độ tăng GO bình quân của toàn vùng Đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn 2001-2010 (17,6%). Tỷ trọng GO công nghiệp theo giá hiện hành năm 2010 của vùng KTTĐ Bắc bộ mới chỉ chiếm 21,7% của toàn quốc, trong khi tỷ lệ này của vùng KTTĐ Phía Nam  là 54,5%.
(2) Trình độ công nghệ trong các cơ sở sản xuất công nghiệp vẫn lạc hậu
Cùng với quá trình hình thành và phát triển của ngành công nghiệp của cả nước trong gần ba thập niên năm đổi mới, cơ cấu công nghệ trong sản xuất công nghiệp của vùng KTTĐ Bắc bộ đã có nhiều thay đổi theo hướng từng bước tiếp cận trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại. Đến nay trong vùng đã hình thành một cơ cấu công nghệ đa dạng về xuất xứ và trình độ, đan xen trong từng doanh nghiệp, từng lĩnh vực và từng chuyên ngành sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, tốc độ đổi mới công nghệ còn thấp, không đồng đều và không có định hướng phát triển rõ rệt. Số công nghệ mới từ các nước công nghiệp phát triển còn ít, chủ yếu từ Liên Xô cũ, các nước Đông Âu, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ... Sự chênh lệch về trình độ công nghệ giữa các khu vực kinh tế đã bộc lộ rõ, công nghệ tiên tiến tập trung chủ yếu ở các liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp. Tỷ lệ công nghệ lạc hậu và trung bình chiếm 60-70%, công nghệ tiên tiến và hiện đại khoảng 30-40%, phản ánh chung ở mức trung bình.
(3)Vẫn phát triển theo chiều rộng, dựa chủ yếu vào sự đóng góp của yếu tố vốn
   Theo số liệu của các địa phương, tốc độ tăng GDP của toàn vùng KTTĐ Bắc Bộ thời kỳ 2001-2010 đạt 12,0%, trong đó, công nghiệp trở thành ngành có tỷ trọng lớn nhất, chiếm 45,5% năm 2010. Đóng góp vào sự tăng trưởng đó, yếu tố vốn chiếm 51,2%. TFP và lao động chiếm lần lượt 23,2% và 25,6%. Giai đoạn 2000-2008, vùng KTTĐ Bắc Bộ đã dành trên 50% vốn đầu tư cho sản xuất công nghiệp. Điều này cho thấy rằng, công nghiệp vùng vẫn phát triển theo chiều rộng, phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư.
(4) Tỷ trọng các ngành chế biến sâu vẫn còn ở mức thấp, khả năng cạnh tranh còn hạn chế, công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển.
Ngoài việc thiết bị của một số lĩnh vực như bưu chính viễn thông, sản xuất hàng điện tử tiêu dùng, sản xuất điện, xi măng, một số ngành thực phẩm và hàng tiêu dùng đạt trình độ tương đối khá, việc phát triển khoa học, công nghệ trong nông nghiệp, thuỷ sản còn rất hạn chế; Các ngành công nghiệp công nghệ cao chưa nhiều, tỷ trọng chiếm khoảng 20,6% (trong khi đó Thái Lan 31%, Singapore 73%, Malaysia 51%); Khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp còn yếu so với các nước trong khu vực. Hầu hết các công ty điện tử có tầm cỡ quốc tế đang đầu tư sản xuất kinh doanh tại vùng KTTĐ Bắc bộ đều cho rằng rất khó khăn trong việc tìm kiếm các nhà liên kết và mặt hàng hỗ trợ trong nước.
(5) Gia tăng quá nhanh, thiếu quy hoạch phát triển các KCN
Công tác quy hoạch các KCN còn nhiều điểm không hợp lý, như việc bố trí các KCN gần đường giao thông, khoảng cách quá gần khu dân cư, do đó ô nhiễm trong KCN dễ dàng gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Bên cạnh đó, nhận thức về việc bảo vệ môi trường trong các KCN của chính quyền các địa phương chưa cao, chưa đánh giá đúng mức vấn đề môi trường với phát triển bền vững.
Các KCN của vùng KTTĐ Bắc bộ đa phần là KCN đa ngành, các độc tố trong nước được thải ra từ các nhà máy này cũng đa dạng đòi hỏi công nghệ của các trạm xử lý nước thải này phải có khả năng xử lý nhiều loại chất độc khác nhau nên tại một số KCN, chất lượng công trình xử lý nước thải vẫn chưa đáp ứng được.
Giải pháp chủ yếu phát triển theo hướng bền vững
(1) Thúc đẩy hoạt động KHCN  và phát triển công nghiệp hỗ trợ
  Tiếp nhận công nghệ hiện đại từ nước ngoài là chủ trương chính sách chủ yếu thực hiện từ nay đến năm 2020. Đây là hướng quan trọng nhất hiện nay để đổi mới và nâng tầm trình độ công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp trong nước. Ngoài cơ chế chính sách thuận lợi cho tiến trình tiếp nhận chuyển giao này là những chính sách hỗ trợ tối đa cho quá trình nắm bắt nhanh, làm chủ và sáng tạo công nghệ, như những biện pháp ưu đãi về thuế và tín dụng để thu hút nguồn công nghệ này, đồng thời phải có biện pháp kiểm soát nguồn công nghệ (không nhập khẩu công nghệ cũ, lạc hậu). Ưu tiên tiếp nhận chuyển giao các công nghệ hiện đại, thân môi trường, đồng thời mang lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội khác như thu hồi vốn nhanh, có khả năng tạo nhiều việc làm và dịch vụ kèm theo. Thành lập trung tâm thông tin, tư vấn về khoa học công nghệ; lập cơ sở dữ liệu về công nghệ theo các nhóm ngành kinh tế - kỹ thuật để công nghiệp có thể lựa chọn công nghệ phù hợp.
  Ban hành chính sách hỗ trợ thuận lợi nhất cho việc hình thành hệ thống vườn ươm công nghệ trong nước với sự giúp đỡ của các tổ chức khoa học công nghệ nước ngoài bằng việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, có chính sách thu hút nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao về làm việc tại các vườn ươm bằng những điều kiện cụ thể, hấp dẫn như thu nhập ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực, có chính sách hỗ trợ nhà ở, bảo hiểm xã hội hợp lý. Khuyến khích và tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ là người Việt Nam ở nước ngoài thực hiện chuyển giao những tiến bộ công nghệ về phục vụ trong nước.
Tập trung quyết liệt việc phát triển hệ thống công nghiệp hỗ trợ, cụ thể cần thành lập cơ quan đầu mối đủ mạnh để có chính sách, kế hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ một cách nhất quán, hiệu quả. Thiết lập nhanh hệ thống cơ sở dữ liệu cho công nghiệp hỗ trợ; lựa chọn các nhóm ngành công nghiệp hỗ trợ cần ưu tiên phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của từng giai đoạn; tiếp tục thí điểm dành quỹ đất cho các khu công nghiệp hỗ trợ. Hiện tại KCN trên địa bàn xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội với diện tích hơn 440 ha, tập trung đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ của 5 lĩnh vực dệt may, da giầy, cơ khí chế tạo, điện tử tin học, sản xuất và lắp ráp ô tô. Khu công nghiệp này sẽ là tiền đề cho sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp trên địa bàn vùng KTTĐ Bắc bộ.
(2) Liên kết đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nhu cầu lao động của Vùng
Thế mạnh của vùng KTTĐ Bắc Bộ là có hệ thống các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề khá lớn, nhưng trong thời gian qua việc hợp tác giữa các nhà khoa học của trường với các địa phương thường mang tính tự phát, chủ yếu dựa trên quan hệ cá nhân, thiếu một đầu mối thật sự đóng vai trò định hướng và liên kết trong đào tạo và hoạt động khoa học - công nghệ cho cả hai phía. Các tỉnh chưa chủ động “đặt hàng” cho các trường đại học và viện nghiên cứu.
Do vậy, bên cạnh việc qui hoạch, dự báo nhu cầu nguồn nhân lực, đầu tư xây dựng các trung tâm đào tạo cho cả vùng KTTĐ Bắc Bộ, ngành giáo dục cần có kế hoạch đẩy mạnh giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật, hình thành đội ngũ doanh nhân giỏi. Cần thường xuyên phối hợp với các địa phương trong Vùng tổ chức các hội thảo, hội nghị bàn về tình hình thực tế và nhu cầu của địa phương nhằm gắn nhu cầu thực tiễn với hoạt động đào tạo và nghiên cứu.
(3) Nâng cao chất lượng thẩm định thành lập KCN, nhất là thẩm định về yếu tố môi trường
Theo đó, hồ sơ dự án khả thi phải đánh giá được tổng lượng khí thải, nước thải, rác thải và chất thải nguy hại do các doanh nghiệp trong KCN thải ra cũng như mức độ ô nhiễm môi trường trong KCN để từ đó có phương án đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải với quy mô, chất lượng xử lý đạt yêu cầu. Đồng thời, luận chứng cụ thể vốn đầu tư và phương án huy động vốn để xây dựng các công trình xử lý chất thải này. Kết hợp giữa việc rà soát các chế tài xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường với việc hỗ trợ các đơn vị có liên quan để chấm dứt tình trạng ô nhiễm hiện tại, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm khí thải.
(4) Cần có qui định đầy đủ và hợp lý về bảo vệ môi trường ngay từ khâu qui hoạch phát triển KCN
Những qui định này hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, chưa hợp lý và chưa khoa học dẫn đến sự tuân thủ chưa triệt để của các KCN, đặc biệt là qui định về việc xây dựng khu xử lý nước thải tập trung cho mỗi KCN. Vì vậy, cần có qui định cụ thể về sự sẵn sàng của cơ sở hạ tầng xử lý nước thải và chất thải trước khi cho phép phê duyệt cấp giấy phép đầu tư vào KCN. Đồng thời cần có qui định cụ thể về việc thẩm định kỹ càng các nội dung về môi trường của mỗi dự án trước khi cấp phép đầu tư, đảm bảo qui trình xử lý chất thải đồng bộ.
Thu hút đầu tư vào KCN cần được tiến hành theo hướng ưu tiên những ngành công nghiệp sạch, ít ô nhiễm, bảo đảm cơ cấu ngành nghề phù hợp khả năng và thực tế giải quyết ô nhiễm của địa phương. Những dự án có cùng ngành nghề và gây ô nhiễm cao nên được bố trí vào một KCN để thuận tiện cho công tác xử lý chất thải…
 
Tô Hiến Thà

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline toà soạn: 0913535939
Văn phòng phía Nam: 0982002424