hoc tap Bac

Số tạp chí mới

Liên kết

Hoàn thiện chính sách pháp luật quản lý thuế để chống thất thu, trốn thuế

Đăng lúc: Thứ ba - 21/11/2017 23:27
Theo Bộ Tài chính, để nâng cao năng lực và hiệu quả của hoạt động quản lý thuế để phòng, chống trốn thuế, thất thu và nợ thuế; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan với cơ quan thuế trong việc thực hiện pháp luật về thuế và quản lý thuế, thì cần thiết phải sửa đổi Luật quản lý thuế hiện hành.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật thuế để ngăn chặn các hành vi gian lận, trốn thuế. Nguồn: kinhtedothi.vn

Hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật thuế để ngăn chặn các hành vi gian lận, trốn thuế. Nguồn: kinhtedothi.vn

Luật quản lý thuế được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007 và được sửa đổi, bổ sung ba lần tại: Luật số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012, có hiệu lực từ ngày 01/7/2013; Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 và Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 (dưới đây gọi chung là Luật quản lý thuế). Sau gần 10 năm thực hiện, Luật quản lý thuế đã đạt được kết quả quan trọng sau:
 
Luật quản lý thuế đã tạo khung pháp lý cơ bản, thống nhất chính sách quản lý thu thuế, đồng bộ với các luật thuế và thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho công tác quản lý thuế thay đổi phương thức quản lý theo cơ chế người nộp thuế tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về thực hiện nghĩa vụ thuế theo pháp luật thuế; cơ quan thuế thực hiện quản lý thuế chủ yếu theo chức năng kết hợp một phần với quản lý theo đối tượng (tuyên truyền hỗ trợ, đăng ký, kê khai, kiểm tra, thanh tra, quản lý nợ thuế...) và hướng tới quản lý rủi ro dựa trên cơ sở thông tin về người nộp thuế.
 
Các chức năng quản lý ngày càng được chú trọng về chiều sâu và chiều rộng, cụ thể: (i) Về công tác tuyên truyền, hỗ trợ: thực hiện đa dạng hoá các hình thức giải đáp vướng mắc như: hỗ trợ trực tiếp tại bộ phận “một cửa”, trả lời bằng văn bản, tổ chức tập huấn, tổ chức đối thoại với doanh nghiệp. Nội dung tuyên truyền tương đối đa dạng, bao trùm hầu hết các sắc thuế, pháp luật quản lý thuế (nhất là các chính sách mới). Trang thông tin điện tử của ngành thuế liên tục được nâng cấp đảm bảo vận hành ổn định, hiệu quả (bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh) và triển khai các trang thông tin của 63 Cục thuế.
 
Các quy trình quản lý thuế, thủ tục hành chính thuế được công khai tại trụ sở cơ quan thuế các cấp, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử ngành thuế để người nộp thuế biết và giám sát việc thực thi pháp luật của công chức thuế.
 
Về công tác đăng ký thuế, kê khai thuế: tỷ lệ doanh nghiệp đã thực hiện kê khai thuế qua mạng năm 2014 đạt 97%, năm 2015 đạt 99%, năm 2016 đạt 99,81%; số lượng tờ khai người nộp thuế nộp đúng hạn, đúng nội dung đã đạt được trên 90% (tỷ lệ tờ khai thuế đúng hạn năm 2015 đạt 92,68%, năm 2016 đạt 94%); tỷ lệ tờ khai thuế đã nộp trên tổng số tờ khai thuế phải nộp năm năm 2014 đạt 92%, 2015 đạt đến 94%, năm 2016 đạt 96%. Về công tác kiểm tra, thanh tra: số lượng và chất lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra thuế đã được cải thiện.
 
Việc ra quyết định kiểm tra, thanh tra thuế cơ bản được thực hiện trên cơ sở thu thập và phân tích thông tin, đánh giá mức độ tuân thủ và xác định rủi ro, phân loại doanh nghiệp (qua gần 10 năm (năm 2007 – năm 2016) đã thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế bình quân 51.863 doanh nghiệp/năm; phát hiện truy thu và phạt qua thanh tra, kiểm tra bình quân 11.554,1 tỷ đồng/năm).
 
Về công tác quản lý nợ thuế: hiệu quả công tác quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế được nâng cao, cụ thể trong giai đoạn vừa qua, mặc dù tổng nợ tăng lên về số tuyệt đối song tốc độ tăng đã có xu hướng giảm qua các năm, tỷ trọng nợ chờ xử lý trên tổng nợ có xu hướng giảm dần từ 22,9% (tại thời điểm 31/12/2009), xuống còn 4,32% (tại thời điểm 31/12/2015); tốc độ tăng nợ thuế đã có xu hướng giảm qua các năm: năm 2011 tăng 34,5% so với năm 2010, năm 2012 tăng 38,1% so với năm 2011, năm 2013 tăng 37,3% so với năm 2012, năm 2014 tăng 10,5% so với năm 2013, năm 2015 tăng 0,4% so với năm 2014. 
 
Về công tác ứng dụng công nghệ thông tin: đã chú trọng đầu tư phát triển ứng dụng công nghệ thông tin, hỗ trợ người nộp thuế trong kê khai, tính thuế và theo sát yêu cầu, quy trình, nghiệp vụ quản lý thuế, từng bước đáp ứng yêu cầu quản lý trong bối cảnh số lượng người nộp thuế tăng nhanh, cùng các yêu cầu về cải cách và hiện đại hóa quản lý thuế.
 
Luật quản lý thuế là bước tiến quan trọng, tạo sự đồng bộ, nâng cao tính rõ ràng minh bạch; tăng cường vai trò kiểm tra giám sát của Nhà nước, xã hội trong công tác quản lý thuế; tạo môi trường thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ pháp luật về thuế, tự giác nộp đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào ngân sách nhà nước; đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để ngành thuế thực hiện nhiệm vụ thu đúng, thu đủ các khoản thu về thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan thuế quản lý thu.
 
Luật quản lý thuế đã quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể tham gia quản lý, thu, nộp thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước. Qua đó, số thu về thuế được đảm bảo, ngành tài chính cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch thu ngân sách nhà nước giao hàng năm (năm 2013 số thu đạt 828.348 tỷ đồng, năm 2014 số thu đạt 877.697 tỷ đồng, năm 2015 số thu đạt 911.100 tỷ đồng, đến năm 2016 số thu ước đạt 1.014.500 tỷ đồng, tăng hơn 1,36 lần so với năm 2008).
 
Bên cạnh những kết quả đạt được, Luật quản lý thuế cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải tiếp tục bổ sung cơ sở pháp lý, phải tăng cường hợp tác, quản lý thuế quốc tế. Thời gian qua, Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tế, hiệp định đa phương, song phương, trong lĩnh vực thuế đến nay, Việt Nam đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 76 nước và vùng lãnh thổ, hiện đang nghiên cứu tham gia Diễn đàn hợp tác triển khai BEPS. Theo đó, Luật quản lý thuế đã có những điểm chưa được quy định hoặc quy định không còn phù hợp với chuẩn mực quốc tế về quản lý thuế để tham gia, ký kết Hiệp định thuế đa phương, triển khai BEPS...
 
Luật chưa tạo điều kiện pháp lý đầy đủ cho việc hiện đại hóa quản lý thuế mà trước hết là triển khai rộng rãi, phổ biến thủ tục quản lý thuế điện tử trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, cách mạng công nghiệp lần thứ 4, thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế đã có sự chuyển biến rõ rệt so với các năm trước.
 
Các quy định về thủ tục quản lý thuế, từ đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế đến thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt, kiểm tra thuế, thanh tra thuế, quản lý thông tin về người nộp thuế... trong Luật quản lý thuế hiện hành cơ bản được xây dựng theo phương thức thủ công truyền thống đã bộc lộ những bất hợp lý cản trở việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quy trình nghiệp vụ và tiến trình hiện đại hóa quản lý thuế.
 
Việc nghiên cứu sửa đổi Luật quản lý thuế đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng mà thực tế phát triển kinh tế hội nhập trước mắt cũng như lâu dài đặt ra. Vì vậy, theo Bộ Tài chính, quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng Luật quản lý thuế (sửa đổi) là đổi mới toàn diện hoạt độngquản lý thuế nhằm xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, công tác quản lý thuế thống nhất, công khai, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao.
 
Tạo nền tảng pháp luật thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 được thông qua tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI và đã được nêu tại Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam; Chiến lược phát triển tài chính, chiến lược cải cách hệ thống thuế đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đồng thời khắc phục các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật quản lýthuế; tháo gỡ bất cập, chồng chéo trong hệ thống pháp luật quản lý thuế và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các pháp luật liên quan; bảo đảm tính khả thi, minh bạch và thuận lợi cho tổ chức thực hiện. Sửa đổi, bổ sung những quy định nhằm góp phần phục vụ chiến lược hội nhập quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước đã đề ra; phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về thuế và chuẩn bị cơ sở pháp luật để phục vụ hội nhập trong giai đoạn tới.
 
Đổi mới các nội dung và các điều luật theo hướng gia tăng các quy định nhằm cải cách thủ tục hành chính; cải cách thủ tục quản lý thuế theo hướng đơn giản, rõ ràng, công khai, thuận tiện, thống nhất, đảm bảo phù hợp với chuẩn mực quốc tế, thực hiện quản lý thuế điện tử, tạo môi trường thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ pháp luật về thuế, tự giác nộp đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước.
 
Luật quản lý thuế (sửa đổi) quy định việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế và cơ quan khác của nhà nước thu theo quy định của pháp luật như: lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp nhà nước sau khi phân phối theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; thu cấp quyền khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật khoáng sản; tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính; tiền sử dụng khu vực biển để nhận chìm theo quy định của pháp luật về tài nguyên, môi trường và hải đảo...
 
theo bcd389.gov.vn

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline toà soạn: 0913535939
Văn phòng phía Nam: 0982002424