chuc mung nam moi

Số tạp chí mới

Liên kết

Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Nghệ An

Đăng lúc: Thứ ba - 07/12/2010 09:00
Đào tạo nghề cho lao động ở Nghệ An

Đào tạo nghề cho lao động ở Nghệ An

(DNTM) Bài 1: Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Nghệ An

Nghệ An là tỉnh có quy mô dân số lớn thứ 4 trong cả nước với hơn 3 triệu người, trong đó có gần 1,8 triệu lao động. Bình quân hàng năm số lao động đến tuổi bổ sung vào lực lượng lao động của tỉnh xấp xỉ 3 vạn người. Xét về cơ cấu, lực lượng lao động phần lớn là trẻ và sung sức, độ tuổi từ 15 - 24 chiếm 22,45%, từ 25 - 34 chiếm 14,16%; từ 35 - 44 chiếm 13% và từ 45 - 54 chiếm 8,71%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 35,7%. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tập trung vào một số nghề như sửa chữa xe có động cơ, lái xe, may mặc, điện dân dụng, điện tử,...còn một số nghề lại quá ít lao động đã qua đào tạo như chế biến nông, lâm sản, nuôi trồng thủy sản, vật liệu xây dựng. Vì vậy, có thể nói trình độ chuyên môn và nghề nghiệp của lực lượng lao động Nghệ An đang còn bất cập, chưa đáp ứng được đòi hỏi đặt ra của thị trường lao động.
1. Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Nghệ An
1.1. Mạng lưới cơ sở dạy nghề
Tính đến nay đã hình thành được mạng lưới gồm 59 cơ sở dạy nghề bao gồm:
- Cơ sở dạy nghề công lập: 34 cơ sở.
- Cơ sở dạy nghề ngoài công lập: 25 cơ sở.
Bên cạnh đó tỉnh cũng chú trọng đến việc chuyển đổi, nâng cấp, thành lập mới các cơ sở dạy nghề theo các trình độ đào tạo được quy định trong Luật dạy nghề số 76/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 và khôi phục làng nghề:
- Nâng cấp Trường Kỹ thuật Việt - Đức, Trường Kỹ thuật công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc, Trường Kỹ thuật nghiệp vụ Du lịch - Thương mại Nghệ An thành các trường cao đẳng nghề.
- Nâng cấp Trung tâm dạy nghề Phủ quỳ thành Trường trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật Miền tây, Trung tâm dạy nghề thành phố Vinh thành Trường trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp Vinh, Trung tâm Hướng nghiệp dạy nghề Quỳnh lưu thành Trường trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Nghệ An, Trung tâm Hướng nghiệp - Dạy nghề Con cuông thành Trường trung cấp nghề dân tộc miền núi Nghệ An, Trung tâm Hướng nghiệp - Dạy nghề Yên Thành thành Trường trung cấp nghề Công - Nông nghiệp Yên Thành; chuyển đổi Trường dạy nghề tiểu thủ công nghiệp thành trường trung cấp nghề.
- Đã khôi phục và phát triển được 180 làng nghề, trong đó 55 làng đã được UBND tỉnh ra quyết định công nhận làng nghề theo tiêu chuẩn của UBND tỉnh.
1.2. Nguồn lực đầu tư
- Kinh phí Nhà nước đầu tư cho dạy nghề (bao gồm: chi thường xuyên, xây dựng cơ bản và kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia):
+ Năm 2006:     36.720 triệu đồng.
+ Năm 2007:     48.758 triệu đồng.
+ Năm 2008:    58.239 triệu đồng
- Huy động nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước để phát triển dạy nghề (các cơ sở dạy nghề thuộc tỉnh):
+ Viện trợ của các tổ chức quốc tế:  46.500 triệu đồng.
+ Đóng góp của người học:             46.675 triệu đồng.
+ Các nguồn kinh phí khác:           9.411 triệu đồng.
+ Ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản và đào tạo của các cơ sở dạy nghề ngoài công lập: 9.850 triệu đồng.
2.3. Quy mô đào tạo
Việc đa dạng hoá các loại hình cơ sở dạy nghề, đa dạng hoá các trình độ đào tạo, đa dạng hoá hình thức dạy nghề (tại trường lớp, tại doanh nghiệp, tại làng nghề, thôn bản...), mở rộng cơ cấu ngành nghề đào tạo đã làm cho quy mô tuyển sinh vào học nghề tăng nhanh.

Bình quân giai đoạn 2005 - 2008 mỗi năm đào tạo được 34.430 người; tạo việc làm cho gần 30.000 lao động, trong đó đào tạo nghề cho lao động miền núi 4.500 - 4.900 người /năm, cho các đối tượng chính sách, người tàn tật, bộ đội xuất ngũ và người sau cai nghiện 1.500 người /năm (không tính miền núi), nâng tỉ lệ học sinh học nghề ở các cơ sở dạy nghề ngoài công lập từ dưới 10% lên trên 23%.
1.4. Chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo đã được các cơ sở dạy nghề quan tâm và chú trọng đầu tư bằng việc xây dựng chương trình, giáo trình; đội ngũ giáo viên; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học. Từ đó nâng cao chất lượng đào tạo, bình quân tỷ lệ học sinh sau khi tốt nghiệp có việc làm đạt từ 90 - 92% giai đoạn 2005 -2008.
1.5. Cơ cấu nghề đạo tạo
Hiện nay, toàn tỉnh Nghệ An số lao động nông thôn sau đào tạo đạt 70%. Theo đó, tốc độ đào tạo lao động cho nông thôn tăng hàng năm từ 2,6% - 3,2%. Song song với đào tạo nghề cho lao động nông thôn là mạng lưới cơ sở dạy nghề có bước phát triển khá.
Với gần 60 cơ sở dạy nghề, các cơ sở này không ngừng được đầu tư, nâng cấp về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đáp ứng kịp thời nhu cầu học nghề của lao động tại địa phương. Tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm sau khi học nghề trên 70% và trên 50% có việc làm phù hợp với ngành nghề đào tạo.
Tuy nhiên, trong quá trình đào tạo nghề, do chưa có điều kiện tổ chức điều tra, khảo sát nhu cầu học của lao động trên từng địa bàn cũng như nhu cầu sử dụng lao động nên việc xây dựng kế hoạch đào tạo nghề chưa có cơ sở thực tiễn; dạy nghề chưa gắn với việc làm và yêu cầu sử dụng của doanh nghiệp; mạng lưói cơ sở dạy nghề chủ yếu tập trung ở khu vực đô thị, cơ cấu đào tạo nghề chưa phù hợp, và vẫn còn tới 70% lao động chưa qua đào tạo nghề.
2. Đánh giá công tác đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp ở Nghệ An
2.1. Kết quả công tác đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp
Xác định rõ giải quyết việc làm cho lao động là vấn đề bức xúc, Nghệ An đã triển khai nhiều chính sách, giải pháp để tạo thêm nhiều chỗ làm việc mới, hỗ trợ và khuyến khích người lao động học nghề, tự tạo việc làm, xuất khẩu lao động (XKLĐ) như: Trích lập Quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm địa phương từ ngân sách tỉnh với mức 2,5-3 tỷ đồng/năm; thành lập mới và đầu tư nâng cấp hệ thống trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề, hướng nghiệp tại các vùng và các huyện, thành thị, nâng cao năng lực các cơ sở giới thiệu việc làm; ban hành chính sách khuyến khích xuất khẩu lao động, hỗ trợ học nghề, chính sách khuyến khích thu hút và đào tạo nghề cho lao động trong các khu công nghiệp của tỉnh; liên kết các chương trình đầu tư phát triển kinh tế với giải quyết việc làm, thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển.
Ngoài ra, Nghệ An cũng chú trọng đến các biện pháp, chính sách nhằm duy trì và mở rộng các làng nghề tiểu thủ công nghiệp, các tổng đội thanh niên xung phong xây dựng kinh tế và các trang trại nông - lâm - ngư trên địa bàn để tạo nhiều việc làm tại chỗ cho người lao động... Với những nỗ lực đó, từ năm 2006 - 2008, toàn tỉnh đã tạo việc làm mới cho hơn 97 nghìn lao động, giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị xuống còn 3,55%, nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn lên 82%.
Tuy nhiên, đứng trước tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, công tác giải quyết việc làm ở Nghệ An vẫn còn nhiều khó khăn: Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn diễn ra khá căng thẳng. Tính đến cuối tháng 4/2009, Nghệ An có khoảng 10 nghìn lao động mất việc làm. Khả năng đầu tư phát triển tạo việc làm tại chỗ mất cân đối so với tốc độ gia tăng lực lượng lao động hàng năm. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo vùng và ngành diễn ra chậm, hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho người lao động để tạo việc làm mới hoặc tự tạo việc làm còn hạn chế, nhất là hệ thống thông tin thị trường lao động. Do còn gặp khó khăn và nhiều mặt tỉnh còn chưa có các chính sách đủ mạnh để khuyến khích phát triển thị trường lao động, chưa đảm bảo cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin cho công tác chỉ đạo, điều hành, hoạch định các chính sách và giải pháp liên quan đến lao động - việc làm trên địa bàn tỉnh. Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên là do xuất phát điểm của nền kinh tế tỉnh còn thấp, khả năng đầu tư và thu hút đầu tư để phát triển sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện và cơ hội cho người lao động có việc làm còn hạn chế. Quy mô dân số và nguồn lao động lớn cũng là áp lực đối với vấn đề giải quyết việc làm. Thêm vào đó, địa bàn rộng lớn, cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật ở vùng nông thôn, miền núi còn thấp kém, việc lãnh đạo, chỉ đạo chương trình việc làm chưa được các ngành, các cấp quan tâm đúng mức, việc xây dựng, phát triển các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề còn nhỏ lẻ, manh mún, nguồn lực đầu tư cho chương trình việc làm chưa đáp ứng được yêu cầu.
2.2. Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề
Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn thấp, nhất là lao động nông thôn. Cơ cấu đào tạo nghề theo trình độ và nghề đào tạo chưa đáp ứng được cơ cấu lao động cần sử dụng của các ngành kinh tế và thị trường lao động (VD: có những nghề phải được đào tạo nhưng chưa có cơ sở đào tạo, nhiều vị trí lao động chưa được đào tạo nghề).
Chất lượng đào tạo nghề còn thấp, do đó dẫn đến còn khoảng cách giữa đào tạo nghề và sử dụng lao động. Tỉnh đã có chính sách khuyến khích phát triển dạy nghề, song đầu tư cho các cơ sở dạy nghề ngoài công lập còn hạn chế.
Việc triển khai thực hiện xã hội hoá dạy nghề còn chậm, mức độ phát triển xã hội hoá không đồng đều giữa các vùng, các địa phương.
Cơ sở dạy nghề ngoài công lập còn nhỏ bé, cơ sở vật chất, trang thiết bị học nghề và dạy nghề còn đơn sơ và nghèo nàn, đội ngũ cán bộ, giáo viên thiếu về số lượng, hạn chế về trình độ kỹ thuật và nghiệp vụ sư phạm.
Các cơ sở đào tạo chưa đảm bảo được tỷ lệ giáo viên/học viên theo quy định, đồng thời trình độ chuyên môn đội ngũ giáo viên của các cơ sở đào tạo còn thấp với phần lớn đạt trình độ cao đẳng trở xuống và còn tới gần 10% ở trình độ sơ cấp.
Công tác phát triển nội dung, chương trình đào tạo, ngành nghề đào tạo được các cơ sở quan tâm nhưng việc căn cứ dựa vào nhu cầu thực tiễn về lao động ở nông thôn còn hạn chế do việc nghiên cứu nhu cầu làm căn cứ xây dựng nội dung, chương trình đào tạo chủ yếu dựa trên đánh giá cảm tính, chủ quan.

Bài 2: Giải pháp đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn Nghệ An

Trịnh Thị Huyền Thương (Khoa Kinh tế, ĐH Vinh)


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 7 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline toà soạn: 0913535939
Văn phòng phía Nam: 0982002424