Số tạp chí mới

Liên kết

Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam giai đoạn đến năm 2015, tầm nhìn 2020

Đăng lúc: Thứ năm - 13/06/2013 12:17
(DNTM) Thủy sản là một trong những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hàng xuất khẩu của nước ta. Ngành thủy sản đang trong quá trình đầu tư để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Bài viết dưới đây sẽ tập trung phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu mặt hàng thủy sản giai đoạn 2010-2012, từ đó đề xuất các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng thủy sản Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020.
Cơ cấu giá trị xuất khẩu các sản phẩm thủy sản từ năm 2005 - 2011

Cơ cấu giá trị xuất khẩu các sản phẩm thủy sản từ năm 2005 - 2011

Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (TCTK), tốc độ tăng bình quân giá trị xuất khẩu (XK) thuỷ sản của Việt Nam giai đoạn từ năm 2005-2012 đạt mức cao là 14,4%/năm. Nếu như năm 2005 kim ngạch XK thủy sản đạt 2,7 tỷ USD thì năm 2012 đã đạt mức 6,156 tỷ USD. Trong đó, mặt hàng cá đông lạnh đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị XK nhanh nhất là 26,4%/năm, từ 0,6 tỷ USD năm 2005 lên 2,5 tỷ USD năm 2012. Sản phẩm mực đông lạnh đạt tốc độ tăng bình quân là 8,8%/năm, từ 74 triệu USD năm 2005 lên 123 triệu USD năm 2012 và tôm đông lạnh đạt tốc độ tăng bình quân là 6,7%/năm, từ 1,3 tỷ USD năm 2005 lên 1,9 tỷ USD năm 2012.
Đạt được kết quả tăng trưởng đó là do thời kỳ này Việt Nam bắt đầu triển khai thực hiện ACFTA, có thể so sánh với những năm trước thực hiện ACFTA giai đoạn 2000-2003, thì tốc độ tăng trưởng XK bình quân hàng năm chỉ đạt 6,3%/năm.
 
Giá trị xuất khẩu các mặt hàng thủy sản giai đoạn 2005 - 2012
Đơn vị: triệu USD
Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011  
2012
2012 so 2005 (%)
Tổng số 2732.5 3358 3763.4 4510.1 4255.3 5016.9 6112.4 6156 125
 Tôm đông lạnh 1265.7 1262.8 1387.6 1315.6 1293.3 1565.5 1864.5 1878 48
 Cá đông lạnh 608.8 1083.4 1379.1 1968.7 1766.9 2018.4 2488.4 2506 312
 Mực đông lạnh 73.9 92.5 60.8 64.8 82.7 97.7 122.4 123 66
 Sản phẩm khác 784.1 919.3 935.9 1161 1112.4 1335.3 1637.1 1649 110
Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê, 2012.
 
Về tăng trưởng XK thủy sản: Năm 2011, XK thuỷ sản đạt 6,1 tỷ USD, tăng trưởng 21,8% so với năm 2010. Đối với sản phẩm thủy sản XK của Việt Nam, thì 3 thị trường dẫn đầu vẫn là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Tính từ năm 2010, XK nhóm này thường thấp vào quý I, II và cao vào quý III, IV hàng năm. Riêng 3 thị trường dẫn đầu Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc có sự tăng cao vào quý III, IV. Thái Lan ở vị trí 13, Malaysia ở vị trí 18 là hai quốc gia ASEAN nhập khẩu cá từ Việt Nam trong Top 20, trong khi Trung Quốc ở vị trí 19.
Về cơ cấu sản phẩm thủy sản XK, những năm gần đây sản phẩm thủy sản XK của Việt Nam đã được đa dạng hóa về chủng loại và đáp ứng ngày một tốt hơn các tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng nhu cầu đa dạng và yêu cầu của thị trường nước ngoài.
Cơ cấu giá trị sản phẩm thủy sản XK đã thay đổi nhiều theo hướng tăng tỷ trọng giá trị cá đông lạnh XK và giảm tỷ lệ tôm đông lạnh. Tỷ trọng giá trị XK tôm đông lạnh chiếm 46,3% năm 2005 đã giảm xuống còn 30,5% năm 2011, trong khi đó tỷ trọng XK cá đông lạnh tăng từ 22,3% năm 2005 lên 40,7% năm 2011; Tỷ trọng XK thủy sản khác giảm từ 28,7% năm 2005 xuống còn 26,8% năm 2011.
Một điểm đáng chú ý của tình hình XK thủy sản Việt Nam thời gian qua là sự chuyển dịch cơ cấu thị trường XK. Theo thống kê của ITC, tăng trưởng XK bình quân hàng năm sang Nhật Bản là cao nhất so với xu hướng tăng trong XK thủy sản của Việt Nam sang các thị trường quan trọng khác như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nga và các nước thành viên EU (Ý, Đức, Hà Lan, Pháp,…).
Bên cạnh đó, tăng trưởng XK thủy sản của Việt Nam sang các nước thành viên EU cũng gia tăng rất nhanh. Trong khi đó, tăng trưởng XK thuỷ sản của Việt Nam sang Thái Lan tăng trong giai đoạn 2010-2011, nguyên nhân là do tác động thương mại tạo ra của EHP/ACFTA.
Chất lượng của các sản phẩm thủy sản XK của Việt Nam trong thời gian qua đã được cải thiện rất nhiều, nhất là các sản phẩm có giá trị gia tăng cao đã ngày càng đáp ứng nhu cầu thị trường. Điều này thể hiện qua việc các nước có kim ngạch NK thủy sản dẫn đầu của Việt Nam đều là những nước phát triển, có đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU…
Có được kết quả đó là do các doanh nghiệp chế biến, XK thủy sản thời gian qua đã đầu tư các nhà máy chế biến với thiết bị hiện đại, để cho ra đời những sản phẩm thủy sản với chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu nghiêm ngặt của thị trường quốc tế, nhất là thị trường khó tính ở các nước phát triển. Tuy nhiên, trong thời gian tới chúng ta vẫn cần phải tiếp tục cải thiện hơn nữa để đáp ứng các quy định rất nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm...
Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản giai đoạn đến 2015, tầm nhìn 2020
Thứ nhất, cần nâng cao hiệu quả công tác thu mua nguyên liệu, tạo nguồn hàng để nghiên cứu mở rộng mặt hàng nhất là mặt hàng giá trị gia tăng.
Để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho chế biến, ngành thủy sản cần khai thác các nguồn khác nhau và áp dụng biện pháp: Sử dụng tối đa sản lượng đánh bắt ngoài biển, giảm thất thoát sau thu hoạch, tận dụng các loài thuỷ sản nước ngọt; Nhập một số nguyên liệu cần thiết. Đồng thời phối hợp với các đơn vị tổ chức hậu cần dịch vụ cả đầu vào, đầu ra cho ngư dân trong vùng và có biện pháp kịp thời ngăn chặn tình trạng tranh giành mua bán nguyên liệu trong vùng.
Sản lượng đánh bắt ngoài biển là các nguồn nguyên liệu chính để chế biến mặt hàng cá, mực đông lạnh sơ chế. Tuy về sản lượng đánh bắt có thể đáp ứng yêu cầu khối lượng nguyên liệu nhưng về chất lượng thì chưa đảm bảo. Do đó, cần có biện pháp bảo quản, thực hiện các tiêu chuẩn kỹ thuật, nghiệp vụ cần thiết để đảm bảo vệ sinh và an toàn chất lượng trong quá trình vận chuyển.
Tạo nguyên liệu tại chỗ cho các nhà máy chế biến bằng cách tổ chức hậu cần dịch vụ đầu vào, đầu ra cho ngư dân nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản trong vùng. Phương thức thực hiện bằng cách ký các cam kết, các hợp đồng dài hạn với các chủ đầm nuôi, các chủ thuyền đánh cá về nội dung và quy chế hậu cần dịch vụ.      
Thứ hai, cần chú trọng đầu tư chế biến để tăng chất lượng sản phẩm.
Hiện nay hoạt động của ngành mới chỉ là kinh doanh hàng thuỷ sản thô, mới qua sơ chế nên hiệu quả kinh doanh chưa cao. Mức độ chênh lệch giữa giá hàng thuỷ sản sơ chế và giá hàng thuỷ sản đã qua chế biến tinh ngày càng lớn. Xu thế chung hiện nay ở Việt Nam là tiến tới đẩy mạnh hàng chế biến nên ngành cần có sự đầu tư vào việc nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu.
Tăng cường năng lực công nghệ chế biến giúp ngành nâng cao được khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Đây đồng thời là biện pháp hữu hiệu nhất để ngành thực hiện việc đẩy mạnh xuất khẩu của mình.
Thứ ba, quan tâm bồi dưỡng nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ xuất nhập khẩu, cán bộ kỹ thuật.
Yêu cầu đối với người cán bộ xuất nhập khẩu là phải giỏi nghiệp vụ ngoại thương, có đầu óc tư duy, năng động sáng tạo, dự báo ứng phó kịp thời với những biến động trên thị trường, thông thạo ngoại ngữ, hiểu rõ những thư từ, hợp đồng thương mại... Tuy nhiên, để đảm bảo cho ngành có được đội ngũ cán bộ xuất nhập khẩu không bị lạc hậu về trình độ thì hàng năm ngành phải có kế hoạch đào tạo lại cán bộ.
Xét một cách tổng quát, đẩy mạnh xuất khẩu, trong đó có xuất khẩu các mặt hàng thủy sản là mục tiêu quan trọng trong hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam. Đây còn là điều kiện để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, tiền đề để thực hiện công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đến năm 2020. Việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu tại các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nói chung, doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản nói riêng cũng chính là góp phần quan trọng vào việc phát triển xuất khẩu và phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại của đất nước.

TS. Chu Thị Thủy - CN. Vương Thị Huệ
Đại học Thương mại Hà Nội

----------------------------------------
Tài liệu tham khảo
  1. Bộ Thủy sản (2012), Số liệu thống kê thủy sản, Nxb. Thống kê, Hà Nội.
  2. Chính phủ (2012), Chương trình phát triển XK thuỷ sản đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội.
  3. Tạ Kim Cúc (2011), Báo cáo ngành thủy sản, Hà Nội.

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline : 0913535939
Liên hệ nội dung: Việt Hằng : 0989.153.746