Số tạp chí mới

Liên kết

LÀM THẾ NÀO ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM?

Đăng lúc: Thứ năm - 13/06/2013 07:36
(DNTM) Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ thuộc khu vực ngòai nhà nước (99,21% doanh nghiệp siêu nhỏ và 94,23% doanh nghiệp nhỏ là thuộc khu vực ngòai nhà nước) bị hạn chế về năng lực tài chính, trình độ công nghệ, năng lực quản trị và chất lượng nguồn nhân lực.
Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

1. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
a) Khái niệm
Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt với việc gia nhập ASEAN (1995), AFTA (1996), APEC (1998) , WTO (2007). Hội nhập quốc tế thực chất là tham gia cạnh tranh cả trên thị trường thế giới và ngay tại thị trường nội địa. Trong bối cảnh đó, năng lực cạnh tranh là yếu tố sống còn. Năng lực cạnh tranh được đánh giá ở các cấp độ khác nhau như quốc gia, địa phương, ngành, doanh nghiệp, sản phẩm. Đối với cấp doanh nghiệp, hiện có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh.
M. Porter (1987) đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng suất lao động. Ưu điểm của quan niệm này, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể đo lường được bằng năng suất lao động, song nhược điểm của nó là chưa gắn năng lực cạnh tranh với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp.
P. Buckley (1991) lại xem năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, duy trì và mở rộng thị phần và thu lợi nhuận của doanh nghiệp so với đối thủ. Hạn chế của quan niệm này là chưa phản ánh một cách tổng quát năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.
Một quan niệm khác coi năng lực cạnh tranh là khả năng chống chịu  trước sự tấn công của đối thủ cạnh tranh, tức là năng lực không bị các doanh nghiệp khác đánh bại về kinh tế. Quan niệm này mang tính chất định tính, không định lượng được.
Ngòai ra còn có quan niệm đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
 Tổng hợp các cách tiếp cận trên, có thể xem năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra được lợi thế cạnh tranh, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Doanh nghiệp là xương sống của nền kinh tế, do vậy các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là yếu tố quan trọng tạo nên năng lực cạnh tranh của quốc gia.
b) Các yếu tố hình thành
Năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp được tạo nên bởi các yếu tố chính sau.
Năng lực tài chính. Khả năng huy động vốn và sử dụng vốn một cách hiệu quả.
Trình độ công nghệ. Mức độ tiên tiến của máy móc thiết bị và quy trình công nghệ.
Chất lượng nguồn nhân lực. Trình độ và tay nghề của lao động ở các khâu trong quy trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.      
Năng lực quản trị. Khả năng tổ chức và điều hành doanh nghiệp một cách hiệu quả.
Năng lực nghiên cứu và phát triển. Khả năng nghiên cứu - phát triển (R&D) của doanh nghiệp đối với các sản phẩm mới (hoặc sản phẩm với tính năng mới), quy trình công nghệ mới (hoặc quy trình hoàn thiện hơn).
Năng lực marketing. Khả năng nghiên cứu và lựa chọn đúng thị trường và khách hàng mục tiêu. CKhả năng đưa ra chiến lược sản phẩm phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng trong mỗi giai đọan khác nhau.
c) Phương pháp đánh giá
Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng chính là các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh. Do đó việc đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thực hiện thông qua đánh giá các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh. Khi đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cần lưu ý các điểm sau.
Thứ nhất, tuy các tiêu chí trên là chung đối với mọi doanh nghiệp song tiêu chuẩn đánh giá theo mỗi tiêu chí là khác nhau đối với các doanh nghiệp khác nhau xét về thành phần kinh tế (doanh nghiệp nhà nước, ngòai nhà nước, có vốn FDI), mô hình họat động (doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, liên doanh, 100% vốn nước ngòai), lĩnh vực hoạt động (nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ). Chẳng hạn năng lực tài chính của doanh nghiệp nhà nước có tiêu chuẩn đánh giá khác với doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn FDI. Hay doanh nghiệp trong nông nghiệp có tiêu chuẩn đánh giá về trình độ công nghệ khác với doanh nghiệp trong công nghiệp và dịch vụ.
Thứ hai, năng lực cạnh tranh được đánh giá không chỉ riêng cho một doanh nghiệp, mà trong sự so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên cùng lĩnh vực. Từ đó thấy được điểm mạnh và yếu của doanh nghiệp so với các đối thủ. Như vậy, để tạo ra năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp phải tạo được lợi thế so với đối thủ mà nhờ đó doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng và lôi kéo được khách hàng của đối thủ.
Thứ ba, việc đánh giá nên được thực hiện kết hợp bằng cả định tính và định lượng.
2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
a) Sự phát triển của doanh nghiệp trong thời kỳ đổi mới
Doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh từ khi công cuộc đổi mới bắt đầu năm 1986 chuyển nền kinh tế kế họach hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều thành phần kinh tế. Số lượng doanh nghiệp tăng lên đặc biệt nhanh chóng với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999 và sau đó là Luật Doanh nghiệp năm 2005.
Năm 2000 mới có 14.000 doanh nghiệp được thành lập. Đến năm 2006 con số đó tăng lên 47.000. Năm 2010, số doanh nghiệp được thành lập đạt kỷ lục 89.000. Từ năm 2011 đến nay, do kinh tế thế giới và trong nước khó khăn, số doanh nghiệp thành lập mới tuy giảm xuống song vẫn đạt 77.500 năm 2011 và 70.000 năm 2012 (Đồ thị 1). Tổng cộng tính đến 31/12/2012 có 694.500 doanh nghiệp đã được thành lập, trong đó 475.800 doanh nghiệp còn đang hoạt động, chiếm 68,5% (Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
 
Đồ thị 1: Số doanh nghiệp thành lập và đang họat động (2002-2012)

Nguồn: "Điều tra doanh nghiệp hàng năm", Tổng cục Thống kê
 
b)  Những hạn chế về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
Các số liệu trên cho thấy sự phát triển mạnh mẽ về số lượng của doanh nghiệp Việt Nam những năm qua. Mặc dù phát triển nhanh chóng về số lượng, song năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn rất hạn chế, thể hiện ở các mặt sau.

Khả năng tài chính thấp. Các doanh nghiệp có vốn dưới 20 tỷ VND (tức là nhóm doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ theo tiêu chí của Nghị định 56/2009/NĐ-CP) chiếm 95% tổng số doanh nghiệp. Mặc dù trong những năm gàn đây tài sản trung bình của một doanh nghiệp đã tăng lên ( từ 23 tỷ VND năm 2002 lên 44 tỷ VND năm 2010), song co số đó vẫn rất nhỏ bé so với thế giới (Bảng 1).

 
Bảng 1 : Vốn đăng ký trung bình của doanh nghiệp Việt Nam (tỷ VND/doanh nghiệp)

Năm

Phân theo

thành phần

kinh tế

 

 

DN Nhà nước

DN có vốn FDI

DN ngòai nhà nước

Tất cả DN

2002

167

134

4

23

2006

470

155

8

26

2010

1.334

297

22

44

Nguồn: "Điều tra doanh nghiệp hàng năm" 2011, Tổng cục Thống kê
 
Phần lớn doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng thấp. Số DN họat động trong lĩnh vực thương mại chiếm trên 39%, trong xây dựng là trên 15%. Ngành công nghiệp chế biến chiếm hơn 16% song phần lớn là gia công, lắp rắp (giá trị gia tăng thấp), lĩnh vực họat động khoa học công nghệ chưa đến 0,1 % (Bảng 2).
 
Bảng 2: Lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam (năm 2010, tỷ trọng %)
Nông nghiệp lâm nghiệp Thủy sản Công nghiệp chế biến Xây dựng Thương mại K. sạn nhà hàng V.tải, kho bãi, TTLL Tài chính- Ngân hàng Khoa học công nghệ KD tài sản, DV tư vấn
2,67 0,49 16,26 15,36 39,09 3,53 6,37 0,73 0,08 12,36
Nguồn: "Điều tra doanh nghiệp hàng năm" 2011, Tổng cục Thống kê
 
Trình độ công nghệ lạc hậu. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang sử dụng công nghệ lạc hậu 3-4 thế hệ so với công nghệ mới hiện nay. Trình độ của 11 ngành công nghiệp Việt Nam ở mức trung bình, trung bình thấp và thấp so với các nước trong khu vực và thế giới. Trong công nghiệp chế tạo, tỷ trọng nhóm sản phẩm công nghệ thấp chiếm 60%, công nghệ cao chỉ chiếm trên 20%. Đóng góp vào GDP của nhóm sản phẩm công nghệ cao chỉ bằng 5,73% GDP và của dịch vụ công nghệ cao chỉ bằng 2,12%.

Năng suất lao động thấp. Việt Nam hiện thuộc nhóm nước có năng suất lao động thấp nhất thế giới. Theo tính toán của Tổ chức Năng suất châu Á (APO), năng suất lao động trung bình của Việt Nam năm 2010 đạt 5.300 USD/lao động/năm, thấp hơn Trung Quốc gần 2,5 lần, thấp hơn Thái Lan 3 lần, thấp hơn Singapore 17 lần (Bảng 3). Trong công nghiệp phần mềm, năng suất lao động của Việt Nam hiện là 10 nghìn USD/người/năm, trong khi ở Trung Quốc là 14-18 nghìn USD, Mỹ là 140 nghìn USD.

 
Bảng 3: Năng suất lao động một số nước châu Á (nghìn USD/lao động/năm 2010)
Singapore Malaysia Thái Lan Trung Quốc Philippines Indonesia Việt Nam
89,9 35 15,3 12,4 9,4 9,0 5,3
Nguồn: “APO Productivity Databook 2012”, APO (2012)
 

Giá thành sản phẩm cao. So với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines, các sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam có giá thành cao hơn từ 1,58 đến 9,25 lần, mặc dù giá nhân công lao động thuộc loại thấp so với các nước trong khu vực.

Yếu về thương hiệu. Ngoại trừ một số ít doanh nghiệp đã tạo được thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế, hầu hết doanh nghiệp Việt Nam chưa xây dựng được thương hiệu mạnh và chưa khẳng định được uy tín trên thị trường quốc tế. Chẳng hạn Việt Nam hiện là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới (có thời điểm tháng 10/2012 đã vươn lên vị trí số 1), song hiện chưa một thương hiệu gạo nào của Việt Nam được biết đến trên thế giới.

Yếu về thông tin thị trường. Theo số liệu điều tra của VCCI, chỉ có gần 10% số doanh nghiệp thường xuyên tìm hiểu thị trường nước ngoài (chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu). Khoảng 42% doanh nghiệp có tìm hiểu thị trường nước ngoài nhưng không thường xuyên, 20% doanh nghiệp (chủ yếu là các DNNVV) không có hoạt động tìm hiểu thị trường nước ngoài.

Năng lực quản trị doanh nghiệp yếu. Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng quản lý. Số doanh nghiệp có giám đốc trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Nhiều giám đốc doanh nghiệp chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, thiếu kiến thức kinh tế - xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh, đặc biệt là năng lực kinh doanh quốc tế. Phần lớn doanh nghiệp quản lý theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kiến thức về quản lý tổ chức, chiến lược cạnh tranh, phát triển thương hiệu và công nghệ thông tin.

Nhận thức và chấp hành luật phá rất hạn chế. Nhiều doanh nghiệp chưa chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đặc biệt là các quy định về thuế, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, chất lượng hàng hoá và sở hữu công nghiệp. Tình trạng doanh nghiệp bị các cơ quan chức năng xử phạt vi phạm chế độ thuế, tài chính còn phổ biến. Nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật là do việc nhận thức và hiểu biết của doanh nghiệp về luật pháp còn hạn chế.

d) Nguyên nhân năng lực cạnh tranh yếu kém
Về phía doanh nghiệp
Phần lớn doanh nghiệp ra đời trong những năm gần đây. Trong tổng số 475.800 doanh nghiệp còn đang họat động tính đến 31/12/2012, số doanh nghiệp được thành lập trong 10 năm trở lại đây (từ năm 2003 đến nay) chiếm tỷ trọng 87%. Do vậy phần lớn doanh nghiệp Việt Nam (nhất là các doanh nghiệp ngoài nhà nước là lực lượng chiếm tới 96,4% tổng số doanh nghiệp) còn rất non trẻ trong nền kinh tế thị trường.

Nhiều doanh nghiệp được thành lập theo phong trào. Đã tồn tại một thực tế nhiều năm là nếu một lĩnh vực kinh doanh đang phát đạt, nhiều doanh nghiệp đua nhau lập ra trong lĩnh vực đó nhằm nhanh chóng giành lợi nhuận mà không có chiến lược kinh doanh lâu dài. Nhiều người lập doanh nghiệp chỉ vì sẵn vốn trong khi thiếu kiến thức và kỹ năng kinh doanh, do đó dễ bị rủi ro và thất bại. Trong bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới khó khăn, năm 2012 có gần 55.000 doanh nghiệp phá sản hoặc ngừng họat động. Trong số đó, không ít doanh nghiệp ra đời theo phong trào đã không thể trụ lại trong điều kiện khó khăn.

Hầu hết doanh nghiệp Việt Nam là nhỏ và siêu nhỏ, phần lớn ở khu vực ngòai nhà nước. Về quy mô lao động, các doanh nghiệp lớn (trên 300 lao động) chỉ chiếm 2,4% tổng số doanh nghiệp, các doanh nghiệp vừa (từ 200-300 lao động) chiếm 1,9%, còn các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm tới 95,7% (doanh nghiệp nhỏ 29,5%, doanh nghiệp siêu nhỏ 66,2%).
Về quy mô vốn, các doanh nghiệp lớn (trên 100 tỷ đ) chỉ chiếm 2,4% tổng số doanh nghiệp, trong khi các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (dưới 20 tỷ đ) chiếm 81% (Bảng 4).
 
Bảng 4 : Tỷ trọng các doanh nghiệp phân theo quy mô (%, năm 2010)

Tỷ trọng

DN lớn

DN vừa

DN nhỏ

DN siêu nhỏ

Tổng

Theo quy mô

>300 LĐ

200-300 LĐ

10-200 LĐ

<10 LĐ

 

lao động

2,4%

1,9%

29,5%

66,2%

100%

Theo quy mô

>100 tỷ đ

20-100 tỷ đ

<20 tỷ đ

 

vốn

4,5%

14,5%

81,0%

100%

Nguồn: "Điều tra doanh nghiệp hàng năm" 2011, Tổng cục Thống kê
 
Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ thuộc khu vực ngòai nhà nước (99,21% doanh nghiệp siêu nhỏ và 94,23% doanh nghiệp nhỏ là thuộc khu vực ngòai nhà nước) bị hạn chế về năng lực tài chính, trình độ công nghệ, năng lực quản trị và chất lượng nguồn nhân lực.
 Các doanh nghiệp Nhà nước tuy quy mô lớn song hiệu quả thấp. Các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn cả về lao động và vốn. Xét về quy mô lao động, tỷ lệ doanh nghiệp Nhà nước quy mô lớn là 42,57%, khá cao so với khu vực ngòai nhà nước và khu vực doanh nghiệp có vốn FDI. Về quy mô vốn, vốn đăng ký trung bình của doanh nghiệp nhà nước là 1.334 tỷ VND, gấp hơn 60 lần doanh nghiệp ngòai nhà nước và gấp 4,5 lần doanh nghiệp FDI.
Mặc dù chiếm tới 70% tổng vốn đầu tư tòan xã hội, khoảng 50% vốn đầu tư nhà nước, 70% vốn ODA, 60% tín dụng ngân hàng, song các doanh nghiệp Nhà nước đóng góp chưa đến 40% GDP. Có đến 31% doanh nghiệp nhà nước bị thua lỗ và 29% họat động không hiệu quả (điển hình là các tập đòan Vinashin và Vinalines).
Đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp thấp. Mức đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,2-0,3% doanh thu của doanh nghiệp. Trong khi đó, tỷ lệ này ở Ấn Độ là khoảng 5%, Hàn Quốc là 10%.
Về phía Nhà nước
Chưa tạo được môi trường vĩ mô ổn định. Việt Nam duy trì quá lâu chiến lược tăng trưởng theo chiều rộng dựa vào khai thác các lợi thế so sánh sẵn có (tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ song năng suất thấp). Chiến lược phát triển đó dẫn đến hiệu quả và chất lượng tăng trưởng ngày càng giảm trong khi các bất ổn kinh tế vĩ mô (lạm phát, bội chi ngân sách, nợ công) ngày càng tăng, tài nguyên cạn kiệt, môi trường xuống cấp. Một môi trường vĩ mô như vậy không tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển
Cơ chế quản lý của Nhà nước còn nhiều bất cập. Hệ thống chính sách kinh tế cho đến nay chưa tạo được môi trường cạnh tranh thực sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Vẫn tồn tại tình trạng độc quyền và thống lĩnh của các doanh nghiệp nhà nước trong nhiều lĩnh vực. Khuôn khổ pháp lý còn nhiều bất cập, khả năng thực thi pháp luật hạn chế. Hệ thống hành chính cồng kềnh, giải quyết công việc chậm chạp, gây phiền hà và làm tăng chi phí cả về thời gian và tài chính cho doanh nghiệp.
Hỗ trợ của Nhà nước cho các doanh nghiệp khu vực ngòai Nhà nước (nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ) còn khiêm tốn. Các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng hiện còn rất ít hoặc chưa hiệu quả. Đầu tư cho R&D (nghiên cứu & phát triển) chủ yếu là từ nguồn ngân sách Nhà nước hiện chỉ chiếm khỏang 0,1-02% GDP, trong khi ở các nước phát triển đầu tư này chủ yếu từ kinh phí của các doanh nghiệp là khỏang 3-4% GDP.
Đầu tư công kém hiệu quả khiến hệ thống cơ sở hạ tầng không phát huy hoặc ít phát huy tác dụng trong hỗ trợ nền kinh tế.
Hệ thống giáo dục - đào tạo còn nhiều bất cập. Hệ thống giáo dục - đào tạo về cơ bản chưa định hướng theo nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội. Tình trạng thừa thầy thiếu thợ hoặc có bằng cấp nhưng không có kiến thức và kỹ năng cần thiết khá phổ biến.
3. KHUYẾN NGHỊ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
a) Đối với doanh nghiệp
Xây dựng chiến lược kinh doanh theo xu thế phát triển của kinh tế trong nước và thế giới. Có chiến lược cạnh tranh trên cơ sở lợi thế cạnh tranh xét ở trên giác độ quốc tế. Đẩy mạnh chuyên môn hóa sản phẩm mà doanh nghiệp có thế mạnh, hoặc liên doanh nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh.Chủ động điều chỉnh đầu tư, đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng thị trường xuất khẩu, sử dụng các công cụ chống rủi ro, tìm nguồn cung cấp mới nguyên liệu thay thế rẻ hơn, chấp nhận giảm lợi nhuận để giữ chân khách hàng.
Tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp cho phù hợp với điều kiện của nền kinh tế.
Áp dụng mô hình quản trị hiện đại, các biện pháp quản lý tiên tiến.
Đổi mới công nghệ, đổi mới thiết bị, tăng năng suất lao động, phát huy tối đa công suất, giảm tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu, tiết kiệm chi phí.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Có chiến lược đào tạo, thu hút và sử dụng nhân tài đến làm việc trong doanh nghiệp.
Chủ động đa dạng hóa cơ cấu vốn và các kênh huy động vốn để không phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay ngân hàng.
Sử dụng hiệu quả nguồn vốn, đồng thời khai thác lợi thế cạnh tranh của địa phương và lĩnh vực kinh doanh.
Tăng chi phí đầu tư để có thông tin về thị trường và đối thủ, từ đó có quyết sách đầu tư đúng, có sức mạnh về sản phẩm, về giá cả và về quy mô để thắng trong cạnh tranh .
b) Đối với Nhà nước           
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ là việc riêng của doanh nghiệp mà rất cần sự hỗ trợ hiệu quả của Nhà nước thông qua các biện pháp sau.
Tạo môi trường vĩ mô thuận lợi. Vai trò quan trọng hàng đầu của Chính phủ là tạo môi trường vĩ mô ổn định và thuận lợi. Trong đó lạm phát được kiềm chế, lãi suất duy trì ở mức hợp lý, tỷ giá tương đối ổn định, nợ công ở mức chấp nhận được, chính sách thuế đảm bảo hài hòa giữa thu ngân sách với khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất – kinh doanh. Một môi trường vĩ mô như vậy sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp họat động và phát triển.
Đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng. Trong một nước đang phát triển như Việt Nam, Nhà nước đóng vai trò là nhà đầu tư chủ yếu vào cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện phát triển cho doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế.
Giảm dần đầu tư nhà nước, tiến tới  xóa bỏ độc quyền của doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực nhà nước không nhất thiết phải nắm giữ. Thay vào đó, khuyến khích và hỗ trợ đầu tư tư nhân vào các lĩnh vực này.
Hỗ trợ doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ) trong đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường, kết nối kinh doanh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nhà nước cần cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp thông qua việc hỗ trợ về lãi suất, bảo lãnh tín dụng và năng lực xây dựng phương án kinh doanh.
Cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo, đảm bảo đào tạo nhân lực theo nhu cầu của doanh nghiệp và của thị trường lao động.
Tăng cường công tác thông tin. Các cơ quan chức năng của Chính phủ cần tăng cường hoạt động nghiên cứu, dự báo và phổ biến kịp thời, công khai các thông tin kinh tế đến doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng xây dựng và điều hành chiến lược đầu tư, kinh doanh của mình.

* Tài liệu tham khảo:
P.J. Buckley (1991), “Problems and developments in the core theory of international business”, Journal of International Business Studies
M.E. Porter (1987), “From competitive advantage to corporate strategy”
Bộ Khoa học và Công nghệ (2011), “Báo cáo về Đề án phát triển công nghệ cao”
Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), “Số liệu về số doanh nghiệp thành lập và đang họat động năm 2012”
Tổng cục Thống kê, "Điều tra doanh nghiệp hàng năm", các năm 2000-2011
Tổ chức Năng suất châu Á (APO), “APO Productivity Databook 2012” (Sách dữ liệu về năng suất lao động năm  2012)


TS. LÊ QUỐC PHƯƠNG
- Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương)

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline : 0913535939
Liên hệ nội dung: Việt Hằng : 0989.153.746