Số tạp chí mới

Liên kết

Thương mại biên giới Việt Nam - Trung Quốc: Thuận lợi, khó khăn và giải pháp

Đăng lúc: Thứ năm - 29/09/2016 12:34
(DNTM) Từ sau khi 2 nước bình thường hóa quan hệ năm 1991 đến nay, thương mại biên giới Việt- Trung phát triển mạnh, do có nhiều nhân tố thuận lợi.
Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Thứ nhất là giữa 2 nước có đường biên giới đất liền dài 1.406km, tiếp giáp 7 tỉnh khu vực phía Bắc Việt Nam (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh) với 2 tỉnh khu vực Tây Nam Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Tây).
Thứ hai, trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc hiện có trên 20 cửa khẩu chính thức cùng rất nhiều cửa khẩu phụ và lối mở, tạo thuận lợi cho thương mại biên giới 2 nước.
Thứ ba, với đường lối đổi mới kinh tế và hội nhập quốc tế được triển khai thực hiện trong nhiều năm qua tại 2 nước, hoạt động  xuất nhập khẩu của cả Việt Nam và Trung Quốc (trong đó có giao thương qua biên giới) đã phát triển mạnh mẽ.
Thứ tư, các tỉnh khu vực Tây Nam của Trung Quốc giáp giới Việt Nam có địa hình phần lớn đồi núi, nên sản xuất nông nghiệp cung không đáp ứng đủ cầu, do đó nhu cầu nhập khẩu nông sản, thủy sản rất lớn. Trong khi đó, nông sản, thủy sản là thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam.
Với những điều kiện thuận lợi đó, kim ngạch thương mại biên giới Việt- Trung những năm gần đây tăng mạnh, từ 16,27 tỷ USD năm 2013 lên 17,2 tỷ USD năm 2014, và 24,15 tỷ USD năm 2015. Thương mại biên giới Việt- Trung chiếm tỷ trọng khoảng 30% tổng kim ngạch thương mại Việt- Trung.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng công nghiệp nhẹ, khoáng sản, nông lâm thủy sản. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là hàng công nghiệp nặng và công nghiệp điện tử, nguyên liệu phục vụ sản xuất, hàng công nghiệp nhẹ và hàng nông sản. Các mặt hàng tạm nhập- tái xuất chủ yếu là hàng thủy hải sản đông lạnh.
Các tác động tích cực
Trong 3 nước Việt Nam có chung biên giới (Trung Quốc, Lào, Campuchia), tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc có hoạt động thương mại nhộn nhịp nhất, chiếm 85% tổng kim ngạch mua bán, trao đổi hàng hóa qua các cửa khẩu biên giới của Việt Nam (tuyến biên giới Việt- Lào chiếm  4% và tuyến biên giới Việt Nam-Campuchia chiếm 11%).
    Thương mại biên giới Việt Nam - Trung Quốc giúp tiêu thụ một lượng lớn nông sản của Việt Nam. Hiện thị trường Trung Quốc chiếm tỷ trọng khá lớn trong xuất khẩu nông sản của Việt Nam, như sắn (chiếm 90%), gạo (40%), cao su (50%).
Hoạt động thương mại biên giới với thị trường Trung Quốc đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương biên giới, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội trên những địa bàn biên giới trọng yếu.
Hoạt động thương mại biên giới còn đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư vào các khu vực miền núi, biên giới xa xôi của nước ta.
Những vướng mắc, tồn tại
Vướng mắc lớn nhất là cơ chế, chính sách quản lý thương mại biên giới của 2 nước còn có nhiều điểm khác biệt.
Do cần thiết nhập khẩu hàng hóa để đáp ứng nhu cầu của nhân dân và do phân cấp quản lý giữa chính quyền trung ương và địa phương ở Trung Quốc, nên các địa phương Trung Quốc giáp giới với Việt Nam được nhập khẩu theo đường tiểu ngạch để đáp ứng nhu cầu của nhân dân địa phương. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng trung ương của Trung Quốc thường xuyên kiểm tra hoặc đưa ra các yêu cầu đối với hàng nhập khẩu qua đường tiểu ngạch. Những đợt kiểm tra, giám sát và các yêu cầu mới đưa ra thường gây gián đoạn, khó khăn cho hàng Việt Nam xuất sang Trung Quốc, có đợt gián đoạn dài ngày gây ách tắc nhiều hàng hóa và tổn thất cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Phía Trung Quốc còn liên tục điều tiết hàng xuất khẩu và hàng tạm nhập tái xuất của Việt Nam qua các lối mở, điểm thông quan qua các mốc mới. Trong khi đó phía Việt Nam việc cho phép xuất khẩu và tạm nhập tái xuất qua các khu vực đó phải xin ý kiến của Bộ Công Thương và Chính phủ, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu.
Tại một số cửa khẩu, lối mở biên giới, hàng hóa hợp pháp xuất xứ Việt Nam được mở tờ khai, làm thủ tục đầy đủ bên phía Việt Nam. Nhưng phía Trung Quốc yêu cầu chuyển từ xe tải lớn sang xe biên mậu nhỏ để đưa sang Trung Quốc theo hình thức chợ biên giới, nhằm tận dụng chính sách ưu đãi 8.000 nhân dân tệ/người/ngày của Trung Quốc, do đó gây chậm trễ và bất tiện cho thông quan hàng hóa của Việt Nam.
Nhiều hàng nông sản của Việt Nam có tính mùa vụ khi mua bán, trao đổi với Trung Quốc theo hình thức đi chợ, doanh nghiệp Việt Nam bán không có hợp đồng mua bán sẵn với đối tác Trung Quốc mà ồ ạt chở lên biên giới khi vào vụ, khiến khả năng thông quan của cửa khẩu nhất thời không đáp ứng được, bị doanh nghiệp Trung Quốc lợi dụng ép giá.
Chẳng hạn mỗi năm Việt Nam xuất sang Trung Quốc 200 nghìn tấn dưa hấu, 600 nghìn tấn thanh long, 200 nghìn tấn vải thiều, nhưng phía Trung Quốc chỉ nhận hàng hoa quả qua cửa khẩu Tân Thanh. Vào vụ thu hoạch cao điểm, phía Việt Nam mỗi ngày có 1.000-1.500 xe chở hàng lên, trong khi bến bãi phía Trung Quốc khá chật hẹp, mỗi ngày chỉ thu mua được 250-350 xe, khiến hàng hóa bị ùn ứ tại cửa khẩu này.
Giải pháp giảm thiểu rủi ro và bất lợi
Chính phủ và các Bộ, ngành cần tạo điều kiện thuận lợi để thu hút doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia hoạt động thương mại, dịch vụ tại các địa phương biên giới. Đặc biệt cần có cơ chế đặc thù cho các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng tại các cửa khẩu.
    Việc mở rộng bến bãi, kho hàng, đầu tư trang thiết bị cần đi liền với việc đơn giản hóa thủ tục thông quan và kéo dài thời gian mở cửa khẩu nhằm giải quyết nhanh chóng thuận tiện cho người, phương tiện, hàng hóa qua lại cửa khẩu,.
Khẩn trương hoàn tất đàm phán để tiến đến sớm ký kết Hiệp định thương mại biên giới Việt Nam - Trung Quốc, thay thế Hiệp định đã ký trước đây từ những năm 1990.
Xem xét lập Hiệp hội kinh doanh biên mậu để đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp Việt Nam trong kinh doanh với Trung Quốc, hạn chế tình trạng doanh nghiệp Việt Nam thường xuyên bị động, bị ép giá, hoặc phụ thuộc quá lớn vào điều tiết từ phía Trung Quốc.
Xây dựng quy chế phối hợp tốt hơn giữa các cơ quan chức năng Trung ương và UBND các tỉnh biên giới trong quản lý, điều hành hoạt động thương mại biên giới, nhằm nâng cao hiệu quả và đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc. Có thể xem xét thí điểm phân quyền cho Chủ tịch các tỉnh biên giới được chủ động quyết định hàng xuất sang Trung Quốc qua cửa khẩu phụ, lối mở nào, nhằm tăng tính linh hoạt trước việc phía Trung Quốc liên tục thay đổi điều tiết. Song địa phương cam kết chịu trách nhiệm trước Chính phủ không để hàng đã lên nhưng không xuất được phải quay về.
Điểm cuối cùng song rất quan trọng là về lâu dài cần chuyển từ xuất tiểu ngạch sang chính ngạch. Hiện tại hình thức xuất tiểu ngạch vẫn rất phổ biến, đặc biệt đối với nông sản. Nguyên nhân do hình thức xuất tiểu ngạch thủ tục đơn giản, ít chịu các biện pháp kiểm dịch khắt khe, không bị áp thuế nhập khẩu mà chỉ chịu các loại phí biên mậu, nên chi phí thấp. Do đó vì lợi nhuận trước mắt đồng thời do tập quán buôn bán kiểu du kích, nhiều tư thương vẫn lựa chọn hình thức xuất khẩu này.
Tuy nhiên, hình thức xuất tiểu ngạch không chỉ rất rủi ro mà còn khiến chất lượng hàng hóa Việt Nam không có động lực để cải thiện, từ đó năng lực cạnh tranh của nhiều hàng hóa xuất khẩu không được nâng cao. Do vậy cần có chính sách phù hợp để hạn chế dần xuất tiểu ngạch và tăng cường xuất chính ngạch.
TS. Lê Quốc Phương
Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại
(Bộ Công Thương)

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline : 0913535939
Liên hệ nội dung: Việt Hằng : 0989.153.746