Số tạp chí mới

Liên kết

Chuỗi cung ứng xuất khẩu và Cách mạng công nghiệp 4.0

Đăng lúc: Thứ tư - 07/02/2018 01:55
(DNTM) Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) vào tháng 01 năm 2016 đã công bố một báo cáo với tiêu đề “Tương lai của việc làm” (The Future of Jobs), trong đó nhấn mạnh ảnh hưởng của công nghệ đến việc làm và khẳng định thế giới đang ở đỉnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Sau 3 cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử (Cơ khí hóa với đầu máy hơi nước; Động cơ điện và dây chuyền sản xuất hàng loạt; Máy tính và tự động hóa), cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được mở đường bằng những đột phá khoa học vào thế giới vi mô và khám phá ra những quy luật mới của thế giới. Những công nghệ mới chưa từng có trước đây đã được hình thành như công nghệ nano, công nghệ ba chiều (3D), công nghệ sinh học phân tử, công nghệ di truyền, công nghệ trí tuệ nhân tạo, người máy, Internet của vạn vật…
 
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3/2017, Thủ tướng Chính phủ đã nêu lên 9 nhiệm vụ để chuẩn bị những điều kiện tốt nhất đảm bảo Việt Nam “không bỏ lỡ con tàu” từ cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0. Trong đó, nhiệm vụ thứ ba là phát triển công nghiệp công nghệ thông tin - truyền thông có giá trị gia tăng và chủ động gia nhập chuỗi cung ứng toàn cầu và đáp ứng nhu cầu trong nước, cũng như xuất khẩu ra thị trường thế giới.
 
Những yếu tố mới tác động lên ngành công nghiệp xuất khẩu
 
Hình thành nhiều loại vật liệu mới
Cách mạng công nghiệp thứ tư là thời kỳ ra đời của nhiều loại vật liệu mới có những tính năng đặc biệt, vừa nhẹ hơn, bền hơn, có thể tái chế và dễ thích ứng, thân thiện với môi trường. Gần đây đã xuất hiện loại vật liệu thông minh có thể tự phục hồi hoặc tự làm sạch, các kim loại có khả năng khôi phục lại hình dạng ban đầu, gốm sứ và pha lê biến áp lực thành năng lượng và nhiều vật liệu khác nữa.
 
Hình thành những sản phẩm mới phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Công nghệ robot đã thâm nhập vào nhiều lĩnh vực của đời sống và sản xuất. Nhiều loại xe ô tô tự lái và nhiều loại phương tiện tự lái khác, thậm chí phương tiện bay để giao hàng hóa cũng đã được giới thiệu. Những xe ô tô này xử lý một lượng lớn dữ liệu cảm biến từ các radar, máy ảnh, máy đo khoảng cách bằng siêu âm, bản đồ được gắn trên xe để điều hướng các tuyến đường đi qua các tình huống giao thông phức tạp và thay đổi nhanh chóng hơn mà không cần bất kỳ sự tham gia nào của con người. Cùng với quá trình phát triển của cảm biến và trí tuệ nhân tạo, khả năng của các phương tiện tự hành này cũng được cải thiện với tốc độ nhanh chóng.
 
Những thành tựu mới trong lĩnh vực sinh học phân tử, sinh học tổng hợp và di truyền học đã giúp giải mã nhanh các hệ gen, tạo ra những giống cây trồng mới trong nông nghiệp có những tính năng thích ứng với tình trạng hạn hán,nước nhiễm mặn hoặc chống sâu bệnh…
 
Thay đổi cách thức sản xuất, tổ chức sản xuất
Một loại công nghệ mới được nói tới nhiều ngày nay là công nghệ 3D. Công nghệ này dùng vật liệu rời in dần theo từng lớp lấy mẫu từ một hình vẽ hay một mô hình 3D có trước để cuối cùng tạo ra một sản phẩm ở dạng ba chiều. Người ta dự báo rằng, trong thời gian tới, nhiều sản phẩm tiêu dùng được sản xuất bằng công nghệ 3D và chiếc ô tô đầu tiên sẽ ra đời bằng công nghệ 3D.
 
Cảm biến và các giải pháp kết nối thế giới thực vào mạng không gian ảo đang phát triển hết sức nhanh chóng. Các cảm biến nhỏ hơn, rẻ hơn và thông minh hơn sẽ được lắp đặt trong nhà, quần áo, phụ kiện, các thành phố, mạng lưới giao thông và năng lượng cũng như các quy trình sản xuất.
 
Hầu như robot đã thay thế con người trong dây chuyền lắp ráp sản xuất ô tô; trong nhiều công đoạn của các dây chuyền sản xuất thuốc chữa bệnh, tham gia các quá trình tự động hóa trong nhà máy cũng như trên đồng ruộng; chăm sóc người bệnh… Tuy nhiên, khi robot và tự động hóa lên ngôi, việc làm sẽ giảm sút, đặc biệt là trong ngành sử dụng nhiều lao động như lắp ráp ô tô, dệt may, đồ gỗ...
 
Cách mạng Công nghiệp 4.0 tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra các "nhà máy thông minh" hay “nhà máy số”, giúp chuỗi cung ứng sản xuất đạt hiệu quả cao nhất về thời gian xử lý, thời gian lưu kho từ đó nâng cao năng suất, tiết kiệm chi phí, vật liệu. Trong các “nhà máy số”, các thiết bị máy móc thông minh giao tiếp với nhau bằng hệ thống mạng và liên tục chia sẻ thông tin về lượng hàng hiện tại, về sự cố hoặc lỗi, về những thay đổi trong đơn đặt hàng hoặc mức độ nhu cầu. Quá trình sản xuất và thời hạn sản xuất được phối hợp với mục tiêu tăng hiệu suất và tối ưu hóa thời gian sản xuất, công suất và chất lượng sản phẩm trong các khâu phát triển, sản xuất, tiếp thị và thu mua.
 
Ngoài hạ tầng mạng, máy móc thông minh còn có sự ghép nối với hạ tầng các mạng thông minh khác, như: mạng thiết bị di động thông minh, mạng lưới điện thông minh, mạng logistics thông minh, mạng ngôi nhà thông minh hay mạng tòa nhà thông minh, và liên kết đến cả mạng thương mại điện tử, mạng xã hội. Trong tương lai, các đơn đặt hàng theo màu sắc, hình dạng và kích cỡ riêng sẽ được thực hiện ngày càng nhiều hơn. Nó hoàn toàn khác cách thức sản xuất hiện nay. Chẳng bao lâu nữa, hầu như tất cả công ty sản xuất ở mọi nơi trên thế giới đều sẽ chịu ảnh hưởng của Cách mạng Công nghiệp 4.0.
 
Thay đổi khái niệm về hàng hóa xuất nhập khẩu
Sự phát triển của công nghệ thông tin dẫn đến sự ra đời của loại hàng hóa mới, đó là hàng hóa số hóa. Đây là những sản phẩm vô hình, không giống các mặt hàng truyền thống như gạo, xi-măng, phân bón, máy móc, sắt thép... Điển hình là các phần mềm, trò chơi, app điện thoại, bài hát, bộ phim... Với mạng Internet, loại hàng hóa này có thể "di chuyển" rất nhanh từ một nơi đến bất kỳ nơi nào trên thế giới, bất chấp khoảng cách và ranh giới quốc gia.
 
Bên cạnh đó, thương mại điện tử được ứng dụng rộng rãi, các hàng hóa vẫn được vận chuyển theo cách thông thường nhưng các công đoạn từ marketing xuất khẩu đến ký kết hợp đồng và thực hiện giao dịch xuất nhập khẩu, hoàn thành các nghĩa vụ thuế sẽ được thực hiện qua môi trường mạng.
 
Việc quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa số hóa đặt ra những thách thức mới cho quản lý nhà nước, do mạng Internet không có biên giới nên không có cơ quan hải quan nào kiểm soát được, do vậy không thể áp dụng các biện pháp quản lý chuyên ngành, việc thu thuế, phí liên quan cũng rất khó khăn.
 
Khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu cũng như thời điểm hàng hóa qua biên giới, việc xác định giá trị hàng hóa, dịch vụ đối với các mặt hàng được giao dịch trên môi trường mạng cũng sẽ khác với khái niệm truyền thống hiện nay, đòi hỏi cơ quan quản lý Nhà nước có cách thức tiếp cận mới về quản lý, điều hành.
 
Công nghiệp Việt Nam và những thuận lợi, khó khăn với Cách mạng Công nghiệp 4.0
 
Một số thuận lợi
Trong lĩnh vực công nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp của Việt Nam đã có sự tăng trưởng liên tục, công nghệ sản xuất đã có bước thay đổi về trình độ theo hướng hiện đại, tỷ trọng công nghiệp chế tạo, chế biến trong giá trị sản xuất công nghiệp tăng, tỷ trọng công nghiệp khai thác giảm dần, cơ cấu xuất khẩu sản phẩm công nghiệp được chuyển dịch theo hướng với hàm lượng công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao hơn.
 
Mặc dù nước ta đang ở trình độ của nước đang phát triển với mức thu nhập trung bình, nhưng theo thống kê chưa đầy đủ, đã có 55% dân số sử dụng điện thoại thông minh và 54% nối mạng Internet, đứng thứ 5 ở châu Á - Thái Bình Dương.
 
Ngành công nghệ thông tin gần đây được Chính phủ cũng như người dân coi trọng. Đội ngũ nhân lực có trình độ ngày càng cao.
 
Việc Việt Nam tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do với các đối tác quan trọng, những nền kinh tế hàng đầu thế giới cũng như cải thiện môi trường kinh doanh và phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp được Chính phủ quan tâm giúp đầu tư nước ngoài tăng trưởng mạnh. Xuất hiện nhiều dự án liên kết hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ cao.
 
Như vậy, công nghiệp Việt Nam có đủ tiền đề cho việc phát triển Cách mạng Công nghiệp 4.0 trong thời gian tới.
 
Một số khó khăn
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, điển hình như: tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều rộng, chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế còn thấp; tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp - xây dựng trong GDP còn cách khá xa so với các nước trong ASEAN, năng suất lao động thấp.
 
Trình độ khoa học - công nghệ của ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp chế tạo chưa cao.
 
Tốc độ và quy mô của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ rất nhanh và rộng. Nếu không có những hành động có mục tiêu ngay ngày hôm nay cho những thay đổi ngắn hạn và xây dựng lực lượng lao động có kỹ năng, chúng ta có thể phải đối mặt với gia tăng thất nghiệp và sự mất bình đẳng, và doanh nghiệp sẽ đối mặt với tình trạng thị trường ngày một thu hẹp.
 
Một số vấn đề đặt ra cho phát triển xuất khẩu công nghiệp và quản lý hoạt động xuất nhập khẩu
 
Về phát triển xuất khẩu công nghiệp 4.0
Chiến lược công nghiệp của Việt Nam trong hơn 30 năm qua hướng tới 3 chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, tiếp tục duy trì sẽ không còn phù hợp với bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chính phủ cần xây dựng các chương trình mục tiêu công nghiệp cho giai đoạn mới, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của công nghiệp nặng, công nghiệp tiêu dùng và công nghiệp hỗ trợ.
 
Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với việc hoàn tất nhiều hiệp định thương mại tự do quy mô lớn, việc tiếp cận thành tựu cách mạng sản xuất mới để tham gia hiệu quả chuỗi giá trị toàn cầu và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhu cầu cấp thiết. Việt Nam cần đầu tư cho khoa học và công nghệ, đổi mưới công nghệ, tạo môi trường kinh doanh năng động để thúc đẩy lan tỏa công nghệ, cải các thị trường lao động, hệ thống giáo dục - đào tạo.
 
9 nhóm giải pháp được Thủ tướng Chính phủ nêu đã bao quát, đầy đủ, giúp xây dựng cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực để phát triển sản xuất công nghiệp theo cách mạng 4.0, từ đó tạo nguồn hàng cho xuất khẩu. Vấn đề đặt ra là không chỉ các Bộ, ngành, cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương mà cần cả hệ thống chính trị, xã hội, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp chung tay triển khai.
 
Về quản lý hoạt động xuất nhập khẩu
Do đặc thù của hoạt động mua bán trên môi trường mạng không bị giới hạn về không gian, thời gian, khó quản lý được đối tượng mua bán. Quy trình tải về, lưu trữ, sử dụng sản phẩm phần mềm từ một website hoặc một ứng dụng nội địa hay từ một quốc gia khác trên môi trường điện tử gần như không có sự khác biệt. Đồng thời, việc kiểm soát nội dung của các sản phẩm phần mềm hay sản phẩm nội dung số khi được đăng tải, giao dịch trên mạng có đáp ứng được các điều kiện về bản quyền, về sở hữu trí tuệ hay không là thách thức đối với các cơ quan quản lý. Bộ Thông tin - Truyền thông cùng với Bộ Công Thương đang nghiên cứu các nội dung này để xây dựng, ban hành các quy định điều chỉnh trong thời gian tới.
 
Với việc nhiều loại vật liệu mới, sản phẩm mới được hình thành thì cơ chế, chính sách quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu cũng cần bám sát, điều chỉnh theo kịp với tình hình mới, đảm bảo mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu cũng như đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn môi trường, an toàn lao động và các mục tiêu công cộng chính đáng khác phù hợp với những điều ước quốc tế mà nước ta đã ký kết, tham gia.
 
Trần Thanh Hải
Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương)
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại số tháng 02/2018

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline : 0913535939
Liên hệ nội dung: Việt Hằng : 0989.153.746