hoc tap Bac

Số tạp chí mới

Liên kết

Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế số

Đăng lúc: Thứ năm - 30/05/2019 08:49
(DNTM) Với chủ đề “Việt Nam trước ngưỡng cửa nền kinh tế số”, Hội thảo công bố Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2019 do Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thực hiện cùng những ý kiến phản biện, trao đổi của các chuyên gia kinh tế đã gợi mở những giải pháp phát triển kinh tế số gắn với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trên cơ sở thực tiễn sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
PGS.TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách thông tin về Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2019

PGS.TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách thông tin về Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2019

Xu hướng số hóa nền kinh tế và các hoạt động xã hội là nền tảng cho phép cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư bùng nổ, đang diễn tiến sâu sắc ở nhiều nước phát triển và diễn ra với tốc độ nhanh ở các nước đang phát triển. Điều này đặt ra những thách thức mới trước khả năng phá vỡ cấu trúc ngành và thị trường, cùng sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị toàn cầu. Việt Nam  không thể nằm ngoài xu thế đó nhưng sự chuẩn bị còn thiếu đầy đủ.
 
Bao gồm 6 Chương và 2 Phụ lục, bên cạnh việc phân tích, đánh giá tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam, Báo cáo thường niên Kinh tế Việt Nam 2019 đi sâu đánh giá và nhận định tương lai cho nền kinh tế số Việt Nam, từ đó chỉ ra cơ hội, thách thức đối với các doanh nghiệp và xã hội Việt Nam trước bối cảnh mới.
 
Chương 1, “Tổng quan Kinh tế thế giới 2018” tóm lược bức tranh kinh tế trên toàn cầu trong năm 2018. Kinh tế thế giới đã duy trì tốt động lực tăng trưởng của năm 2017 trong nửa đầu năm 2018 nhưng nửa cuối năm gánh chịu nhiều thách thức mới tác động đến “sức khỏe” kinh tế toàn cầu.
 
Sự sụt giảm tăng trưởng toàn cầu là do bị tác động bởi cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, căng thẳng kinh tế vĩ mô tại một số nền kinh tế mới nổi như Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ,  “bình thường hóa” chính sách tiền tệ ở một số nền kinh tế phát triển, chính sách tín dụng chặt chẽ hơn ở Trung Quốc, cùng với đầu tư toàn cầu sụt giảm khiến cho mức độ tăng trưởng không đồng đều giữa các nước trên thế giới gia tăng.
 
Kinh tế Mỹ tăng trưởng thấp hơn so với mức mục tiêu của Tổng thống Donald Trump đề ra, nhưng vẫn là điểm sáng của kinh tế toàn cầu nhờ mức tăng trưởng vẫn mạnh hơn so với các nước phát triển khác trong bối cảnh kinh tế toàn cầu giảm. Tăng trưởng của Trung Quốc, EU, Nhật Bản, ASEAN và các nền kinh tế mới nổi đều chậm lại.
 
Chương 2, “Tổng quan  Kinh tế Việt Nam  2018” cung cấp một cái nhìn và đánh giá toàn cảnh về kinh tế Việt Nam trong năm 2018. Bất chấp sự phục hồi không đồng đều và nhiều biến động bất thường của kinh tế thế giới, Việt Nam tiếp tục hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế-xã hội mà Quốc hội đề ra  trong năm 2018.
 
Thương mại và đầu tư quốc tế tăng trưởng cao. Thị trường tiền tệ, vốn và tỷ giá đều có sự ổn định và nằm trong tầm kiểm soát. Thâm hụt ngân sách và nợ công cũng có sự cải thiện nhất định.  Tuy nhiên, những thành công kể trên đang dựa trên một nền tảng vĩ mô còn thiếu chắc chắn và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu hay việc làm ngày càng phụ thuộc vào khu vực, thậm chí là một vài doanh nghiệp, FDI. Trong khi lợi ích kinh tế nhận được từ sự thành công của khu vực này còn quá ít thì Việt Nam lại đang phải chịu những rủi ro lớn hơn về môi trường, hoặc đang tạo ra sự bất bình đẳng trong môi trường kinh doanh với khu vực trong nước.
 
Chương 3, “Tương lai Nền kinh tế số của Việt Nam”, đã làm nổi bật những xu thế chủ đạo đối với tương lai nền kinh tế số của Việt Nam và tạo ra bốn kịch bản có thể cho tương lai nền kinh tế số của Việt Nam vào năm 2045.
 
Các viễn cảnh tương lai của Việt Nam là hoàn toàn khác biệt, phụ thuộc và sự kết hợp các các tác nhân bên trong và bên ngoài, được minh họa cùng với các ước lượng tác động đối với GDP và thay thế việc làm. Những tác động này được ước lượng thông qua mô hình định lượng.
 
Chương 4, “Sự tham gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4” khai thác hai khía cạnh đe dọa nghiêm trọng tới sự tăng trưởng kinh tế bền vững dựa vào xuất khẩu của nền kinh tế Việt Nam: thứ nhất, nút thắt nội sinh của trong mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu; và thứ hai là cách thức Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
 
Việt Nam chủ yếu tham gia các liên kết sau ở các ngành máy tính và đồ điện tử, dệt may, giày dép, thực phẩm & đồ uống, và máy móc điện. Các ngành công nghiệp này nằm ở các khâu trung nguồn (middle-stream) của chuỗi giá trị, có nghĩa là chúng đóng góp phần lớn vào tổng giá trị xuất khẩu, nhưng tạo ra giá trị gia tăng rất nhỏ cho nội địa. Điều này cũng lý giải tại sao Việt Nam tham gia liên kết phía trước rất mạnh, nhưng liên kết phía sau rất yếu.
 
Chương 5, “Ứng dụng dữ liệu lớn trong thống kê kinh tế vĩ mô: trường hợp thu thập giá cả trực tuyến để ứng báo lạm phát”, cung cấp một cái nhìn tổng quan về tiềm năng của việc sử dụng dữ liệu được quét trên web để thống kê giá tiêu dùng. Phương pháp thu thập dữ liệu này đã rất thành công với dữ liệu hoàn chỉnh.
 
Trong bối cảnh Internet đã được phổ cập và công nghệ đang phát triển rất nhanh, số người dùng tham gia mua bán trên thị trường thương mại điện tử đang ngày một tăng lên. Bằng cách khai thác và tìm hiểu sâu hơn về các cơ chế đặt giá và mua hàng trên các trang bán hàng trực tuyến, chúng ta có thể có một cái nhìn khách quan và liên tục được cập nhật về trạng thái của thị trường các ngành cũng như của cả nền kinh tế
 
Chương 6, “Viễn cảnh kinh tế Việt Nam 2019 và hàm ý chính sách”, trên cơ sở phân tích về các xu hướng diễn biến chính của kinh tế thế giới cùng những đánh giá rủi ro và thuận lợi trên thị trường quốc tế cũng như trong nước, có thể nhận định phạm vi và mức độ của các rủi ro vĩ mô cho nền kinh tế Việt Nam trong năm 2019. Trong đó có xu hướng quan trọng khác của thương mại quốc tế năm 2019 là sự tăng trưởng của thương mại dịch vụ và sự phát triển của thương mại điện tử và bùng nổ sáng kiến đổi mới dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
tư.
 
Kinh tế thế giới sẽ chứng kiến các nước phát triển từng bước chuyển sang giai đoạn tăng trưởng chủ yếu dựa vào động lực không có trần giới hạn là công nghệ và đổi mới sáng tạo. Dòng vốn FDI của các công ty đa quốc gia sẽ quay trở về các nước phát triển để khai thác thị trường tiêu thụ và sử dụng các trung tâm nghiên cứu-triển khai.
 
Cần thay đổi tư duy thúc đẩy tăng trưởng
 
Về mặt chính sách, VERP cho rằng Việt Nam cần rà soát và lựa chọn sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế trước những thay đổi toàn cầu diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Tư duy thúc đẩy tăng trưởng dựa vào các nguồn lực truyền thống như tăng sản lượng khai thác tài nguyên thiên nhiên và tận dụng lao động giá rẻ là không còn phù hợp mà cần phải đẩy mạnh nguồn lực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, một nguồn lực cho phép tạo ra một không gian lớn cho phát triển.
 
Nếu không có những thay đổi căn bản, Việt Nam khó có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế như hiện nay. Trong tương lai không xa, thị trường lao động có thể phải đối mặt với khó khăn từ hoạt động tự động hóa và chuyển đổi số. Nguy cơ mất việc làm, gia tăng thất nghiệp sẽ là vấn đề đau đầu đối với Chính phủ và chính người lao động.
 
Bên cạnh đó, khả năng tận dụng được những thành quả của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 để thúc đẩy sự phát triển kinh tế nói chung và của từng ngành sản xuất và dịch vụ nói riêng là nhiệm vụ khó có thể thực hiện trong bối cảnh năng suất lao động, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam còn nhiều hạn chế.
 
Do vậy, trước mắt Chính phủ cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng suất lao động, tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển  ứng dụng khoa học công nghệ, tạo nền tảng cho Việt Nam hướng tới Chính phủ số và nền kinh tế  số trong tương lai. 
 
Bài, ảnh: Việt Hằng
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline toà soạn: 0913535939
Văn phòng phía Nam: 0982002424