Số tạp chí mới

Liên kết

Doanh nghiệp logistics Việt Nam: Nhiều nhưng còn yếu

Đăng lúc: Thứ tư - 30/03/2016 16:03
(DNTM) Theo Báo cáo chuyên đề Kế hoạch hành động nâng cao năng lượng cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics của Bộ Công Thương, các nhà cung cấp dịch vụ logistics đăng ký kinh doanh tại Việt Nam tính đến 31/12/2015 gồm hơn 2.200 doanh nghiệp với nhiều loại hình dịch vụ cơ bản và truyền thống như vận tải và đại lý vận tải, cho thuê kho bãi, xếp dỡ tại cảng, khai báo hải quan, dịch vụ xuất nhập khẩu, dịch vụ logistics. Số lượng nhà cung ứng dịch vụ logistics nhiều nhưng năng lực cung cấp dịch vụ còn thiếu chuyên nghiệp, chất lượng thấp.
Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Hình thành sớm, số lượng tăng nhanh
            Trên thực tế, các nhà cung cấp dịch vụ logistics Việt Nam đã có quá trình phát triển hơn 20 năm, từ những năm đầu của tập niên 1990 đến nay.
          Năm 1993, trong quá trình phát triển và tham gia các tổ chức quốc tế, theo đề nghị của các công ty giao nhận vận tải, thuê tàu… Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam (VIFFAS) được thành lập. Sự ra đời của VIFFAS trễ hơn nửa thế kỷ so với tổ chức Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA) năm 1926 và 2 năm sau khi Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận Asean (AFFA) thành lập.
          Tuy nhiên, ngành giao nhận kho vận Việt Nam đã ra đời từ thời kỳ đầu của ngành Ngoại thương Việt Nam khi Bộ Ngoại thương thành lập Cục Kho vận kiêm TCty Giao nhận ngoại thương (Vietrans) năm 1970 và đến năm 1979, Bộ Nội thương cũng thành lập Cục Kho vận và các công ty kho vận ở 2 miền.
          Như vậy, có thể thấy rằng ngành logistics Việt Nam cũng như các nước, đã có nguồn gốc khá sớm và khởi nguồn từ ngành giao nhận, kho vận. Cho đến khi có Luật Thương mại năm 2005, lần đầu từ từ “dịch vụ logistics” mới được luật hóa.
          Khoảng thời gian 2005 - 2010, trong lĩnh vực dịch vụ giao nhận truyền thống và sau đó là logistics, cảng biển, vận tải, đã có thêm những thương hiệu mạnh của Việt Nam như Sotrans, Transimex SG, Gemadept, SNP… Cũng trong thời gian này, số lượng doanh nghiệp dịch vụ tại Việt Nam tăng lên chạm ngưỡng 1.000. Năm 2010, sau Đại hội nhiệm kỳ VI, VIFFAS thành lập Viện Nghiên cứu phát triển logistics của Hiệp hội và tăng cường các hoạt động huấn luyện nhận thức trong nước cũng như phổ biến các chương trình đào tạo tiêu chuẩn thế giới của FIATA.
          Tính đến tháng 12/2012, sau 19 năm thành lập, qua 6 nhiệm kỳ Đại hội, Hiệp hội VIFFAS đã có hơn 200 hội viên, đại bộ phận là các doanh nghiệp giao nhận và dịch vụ logistics đại diện khoảng 20% ngành về số lượng, ước khoảng 40% đại diện về vốn kinh doanh trong lĩnh vực giao nhận, logistics và quy tụ khoảng 40% nhân lực của ngành. Cũng trong năm này, Chủ tịch VIFFAS được bầu làm Chủ tịch AFFA – đánh dấu một mốc phát triển đáng kể trong cộng đồng logistics khu vực.
          Năm 2013, Việt Nam đã có hơn 1.200 nhà cung cấp dịch vụ có đăng ký. Thời điểm này, nhiều nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài đã hiện diện tại Việt Nam, đa số dưới hình thức văn phòng đại diện, công ty liên doanh. Trong đó có khoảng 20 hãng tàu, 40 hãng hàng không, 20 công ty logistics thuộc hàng “top 25 global”. Tốc độ phát triển trung bình của ngành được ước tính là 25%, riêng về vận tải thì có sự phát triển của vận tải hàng không được xem là có tốc độ tăng trưởng cao thuộc top 5 thế giới. Tuy nhiên, mảng vận tải biển gặp nhiều khó khăn chủ trong nước cũng như quốc tế. Trong năm này, VIFFAS đổi tên thành Hiệp hội các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA).
          Năm 2014 – 2015 đánh dấu mốc quan trọng do Việt Nam mở cửa cho các doanh nghiệp FDI đầu tư vào dịch vụ logistics, làn sóng chia tách, mua bán, sáp nhập hiện đã bắt đầu phát triển và sẽ còn tăng cao khi các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài liên tục tìm kiếm những cơ hội mua lại các công ty logistics từ nhỏ tới lớn của Việt Nam. Đầu từ FDI tăng, xuất khẩu tăng trưởng trên 10% và sự phát triển các thị trường mới ngoài thị trường truyền thống tạo thêm cơ hội cho ngành vận tải và logistics. Sự hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) cuối năm 2015 cũng là một cơ hội phát triển cho ngành logistics Việt Nam khi các chuỗi cung ứng hàng hóa được mở rộng, các hành lang vận tải mới phát triển.
          Có thể thấy, những giới hạn cuối cùng để mở cửa ngành dịch vụ này đã được xóa bỏ. Điều này, về bản chất là tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế nhưng để duy trì thế chủ động và tìm kiếm lợi ích cho kinh tế trong nước là có nhiều thách thức. Giai đoạn 2016 – 2020 tới chắc chắn là thời kỳ thử sức của các doanh nghiệp trong nước về khả năng dẫn dắt ngành vận tải và logistics phát triển.
Năng lực cung ứng dịch vụ còn hạn chế
          Thị trường logistics Việt Nam hiện nay có các loại hình dịch vụ cũng là những phân khúc thị trường khác nhau, chủ yếu tập trung ở loại hình 2PL và 3PL, nhưng năng lực cung ứng còn nhiều hạn chế.
           Các nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai (2PL): Có số lượng đăng ký nhiều tuy nhiên phải nhìn nhận rằng đa số doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam đang làm dịch vụ một cách đơn lẻ, trong số đó không quá 50% là có tài sản – nhóm được xem là ở phân khúc 2PL. Bản thân 2PL không phải loại dịch vụ không hấp dẫn, vì nhóm này quyết định đáng kể tới chất lượng dịch vụ nói chung và các công ty nước ngoài cũng cần thông qua 2PL Việt Nam để thực hiện các dịch vụ tích hợp. Tuy nhiên, 2PL Việt Nam bị đánh giá là đa số rất thiếu chuyên nghiệp và chất lượng thấp.
           Các nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba hay logistics theo hợp đồng (3PL): Theo một báo cáo của công ty tư vấn Frost & Sullivan mô tả quá trình chuyển biến các loại hình dịch vụ logistics trên thế giới và so với Việt Nam thì chỉ có 15% doanh nghiệp trong nước tham gia vào phân khúc 3PL.
          Trên thực tế có thể còn ít hơn bởi theo thống kê có 287 nhà cung cấp dịch vụ logistics, được xem là tổng số 3PL thì số doanh nghiệp nước ngoài khoảng hơn 200 doanh nghiệp. Trong số đó chỉ có 25% đầu tư vào tài sản, số còn lại thuê lại các 2PL trong nước. Số liệu này đang thay đổi nhanh chóng theo quá trình mua bán, sáp nhập và đầu tư mới. Dự báo số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ tăng nhanh lên tới hơn 50% trong vài năm tới.
         Trong điều kiện đó, hiện nay nhiều 2PL Việt Nam đang nỗ lực đầu tư phát triển năng lực chuyên môn do đã tích luỹ khá nhiều kinh nghiệm và quan hệ đối tác, khách hàng. Mặc dù vậy, đa số các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn về nhân lực, công nghệ và vốn.
          Theo các chuyên gia, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng kịp nhu cầu; hạ tầng vận tải và thương mại phát triển chưa đồng bộ, thiếu cơ chế chính sách hỗ trợ và điều hành hiệu quả từ các cấp chính quyền, cơ quan chức năng; chất lượng dịch vụ ở mức thấp; văn hóa doanh nghiệp, ứng xử trong cộng đồng ngành chưa chuyên nghiệp… đang được coi là những nguyên nhân tác động đến hạn chế năng lực cạnh tranh của dịch vụ logistics Việt Nam.
          Về hiệu quả kinh tế trong cung cấp dịch vụ, trong những năm đầu khi ngành mới phát triển, có một thực tế là các doanh nghiệp rất dễ kiếm lợi nhuận nhưng cạnh tranh đã ngày càng khốc liệt hơn. Hiện nay, thống kê trong Top 20 nhà cung cấp dịch vụ của VLA, có tổng vốn đầu tư 7.109 tỷ đồng, năm 2014 tổng doanh thu dịch vụ của nhóm là 15.893 tỷ đồng, lợi nhuận ròng là 1.350 tỷ đồng. Theo đó có thể thấy tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư có mức trung bình là 19%/năm. Nếu quản lý tốt và có điều kiện kinh doanh thuận lợi, mức lợi nhuận có thể đạt cao hơn.

Hoàng Phương
          Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại số tháng 3/2016

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline : 0913535939
Liên hệ nội dung: Việt Hằng : 0989.153.746