Số tạp chí mới

Liên kết

Thu hút vốn FDI - Định hướng mới và những giải pháp

Đăng lúc: Thứ tư - 31/10/2018 10:56
(DNTM) Sau 30 năm mở cửa nền kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) đã góp phần thực hiện nhiều mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội quan trọng của đất nước. Tuy nhiên, cần đánh giá đúng những thành tựu đạt được, những tồn tại hạn chế để đề ra định hướng mới nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả hơn nữa nguồn vốn này trong thời gian tới.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các nhà đầu tư FDI. Ảnh: chinhphu.vn

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các nhà đầu tư FDI. Ảnh: chinhphu.vn

Sự nghiệp Đổi mới bắt đầu năm 1986 thì đến tháng 12/1987 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư nước ngoài. Có thể nói, thu hút ĐTNN luôn “song hành” với sự nghiệp Đổi mới và là sự cụ thể hóa sinh động chủ trương “mở cửa” của đất nước.
 
Động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
         
Số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tính đến tháng 8/2018 đã có hơn 26.500 dự án FDI đến từ 129 quốc gia và vùng lãnh thổ với số vốn đăng kí hơn 334 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 184 tỷ USD. Đến năm 2017, khu vực FDI chiếm gần 20% GDP; đóng góp 23,7% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội; trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp; sử dụng gần 4 triệu việc làm trực tiếp và 5-6 triệu việc làm gián tiếp. Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu của khu vực này chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong xuất khẩu chung của cả nước, đạt 72,6% trong năm 2017 và 71,4% trong 9 tháng đầu năm 2018; Số thu nộp ngân sách của khu vực FDI tăng đều qua các năm và đạt hơn 8 tỷ USD trong năm 2017, chiếm 17,1% tổng thu NSNN. 10 địa phương có nguồn thu NSNN lớn, 16 địa phương tự cân đối được ngân sách đều là những địa phương thu hút được nhiều dự án FDI.
 
Đầu tư FDI cũng góp phần quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Với tỷ trọng 58,2% vốn FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, tạo ra trên 50% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, FDI còn góp phần phát triển khu vực công nghiệp, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước; hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như: viễn thông, dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin…, tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng trong dài hạn.
 
Khu vực đầu tư FDI đồng thời đóng góp đáng kể vào việc phát triển ngành dịch vụ chất lượng cao ở Việt Nam những năm qua như: tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, logistics… và là nhân tố góp phần chuyển đổi không gian phát triển, hình thành các khu đô thị mới, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế.
         
Đầu tư  FDI còn tạo tạo thuận lợi cho Việt Nam mở rộng thị trường quốc tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, từng bước tham gia vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Nhờ có định hướng này, xuất khẩu của khu vực FDI đã tăng nhanh trong thời gian gần đây, góp phần quan trọng làm cân bằng cán cân thương mại, giảm áp lực tỷ giá và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
         
Về xã hội, khu vực đầu tư FDI có nhiều đóng góp trong tạo việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đi tiên phong trong đào tạo, nâng cao trình độ và tác phong công nghiệp của đội ngũ công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý.
         
Ngoài ra, việc thu hút và sử dụng vốn FDI cũng góp phần tích cực hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tăng cường quan hệ đối ngoại, hợp tác và hội nhập quốc tế.
         
Mặc dù đã đạt những thành tựu quan trọng nhưng khu vực FDI cũng còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục. Đó là mức độ kết nối, lan tỏa của khu vực này đến khu vực đầu tư trong nước chưa đạt như kỳ vọng; thu hút và chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI còn khiêm tốn; thu hút vốn FDI vào một số ngành, lĩnh vực ưu tiên và từ các tập đoàn đa quốc gia còn hạn chế. Bên cạnh đó vẫn còn hiện tượng một số doanh nghiệp chuyển giá, trốn thuế hoặc chưa nghiêm túc thực hiện quy định về bảo vệ môi trường, hiệu quả sử dụng đất của nhiều dự án FDI chưa cao…
 
Hợp tác FDI với nội hàm rộng hơn
 
Tại Hội nghị tổng kết 30 năm thu hút vốn FDI mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh: Việt Nam khẳng định nhất quán khu vực kinh tế có vốn ĐTNN luôn là một bộ quan trọng của nền kinh tế. Sau 30 năm thu hút ĐTNN, hiện nay Việt Nam thực hiện chính sách “hợp tác ĐTNN” với nội hàm mở rộng hơn.
 
Hợp tác ĐTNN là hợp tác cả về quản lý, kết nối, đầu tư mua lại, sáp nhập lẫn nhau, đặc biệt hợp tác bảo vệ môi trường, bảo vệ người lao động, bảo đảm các lợi ích xã hội. Hợp tác ĐTNN là mang tính chủ động, có sự bình đẳng, lựa chọn, “không phải nhà ĐTNN mang gì vào ta chấp nhận nấy và điều quan trọng là có lựa chọn, dần thoát khỏi gia công, lắp ráp đơn thuần, nâng tầm trình độ sản xuất, nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế quốc gia”.
 
Xuất phát từ thực tiễn của đất nước, Việt Nam tiếp tục thu hút vốn ĐTNN để giải quyết lao động, việc làm ở các vùng nông thôn, miền núi. Còn khu vực thành phố phát triển, thị xã thì ưu tiên thu hút đầu tư kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao… Đây là quan điểm nhân văn của phát triển bền vững, bao trùm, chia sẻ thành quả phát triển với mọi người dân.
 
Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, chính quyền địa phương tập trung làm cho được điều mà các nhà đầu tư luôn cần là: Giữ vững ổn định chính trị xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô. Điều đó đòi hỏi phải thống nhất tư tưởng, nhận thức về hợp tác ĐTNN và triển khai đồng bộ, sáng tạo các biện pháp về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại. Hoàn thiện khung pháp luật liên quan đến đầu tư, trong đó có thực hiện chủ trương hợp tác ĐTNN có ưu tiên, chọn lọc gắn với mục tiêu nâng tầm trình độ nền kinh tế, xây dựng nền kinh tế tự chủ.
 
Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước liên doanh, liên kết, góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp ĐTNN trong các dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới, công nghiệp hỗ trợ....Đồng thời, các doanh nghiệp trong nước cần chủ động hợp tác, “mua” lại các doanh nghiệp ĐTNN tại Việt Nam để tiếp thu thị trường, kênh phân phối, làm chủ công nghệ, quản lý và phát triển các sản phẩm quốc gia. Hoàn thiện chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư trên nguyên tắc gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát để đảm bảo doanh nghiệp ĐTNN thực hiện đúng cam kết đầu tư, tuân thủ đúng tiêu chí, điều kiện hưởng ưu đãi.
 
Tạo cơ chế kết nối các hoạt động xúc tiến về đầu tư, thương mại, du lịch nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, hoàn thiện cơ chế phân công, phân cấp quản lý nhà nước về  ĐTNN giữa các cơ quan trung ương và địa phương.
 
Định hướng thu hút và sử dụng vốn FDI thời gian tới
 
Hiện nay, bối cảnh thế giới và khu vực đang có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực nhưng cũng chứa đựng rủi ro, thách thức. Quy mô dòng vốn FDI toàn cầu có xu hướng giảm; hình thức và phương thức đầu tư phi truyền thống có xu hướng gia tăng. Chiến tranh thương mại Hoa Kỳ và Trung Quốc, sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ và chống tự do hóa thương mại đa phương cũng đang làm thay đổi xu hướng của dòng vốn đầu tư toàn cầu. Cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra nhanh chóng tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống và sản xuất, kinh doanh. Hơn nữa, với sự tự do lưu chuyển vốn, hàng hóa, dịch vụ, lao động có kỹ năng trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN thúc đẩy sự cạnh tranh thu hút FDI giữa các nước trong khu vực mạnh mẽ hơn.
 
Ở trong nước, quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng bắt đầu đạt được những kết quả tích cực; khu vực kinh tế tư nhân đang phát triển mạnh mẽ; quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước được đẩy mạnh tạo thêm cơ hội cho khu vực tư nhân và khu vực doanh nghiệp FDI gia tăng đầu tư kinh doanh. Việt Nam cũng đang hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
 
Với những yếu tố đó, thu hút dòng vốn đầu tư FDI trong thời gian tới cần điều chỉnh theo những định hướng mới.
 
Thứ nhất, về ngành, lĩnh vực, ưu tiên thu hút FDI vào các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, tiên tiến, công nghệ thân thiện với môi trường, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sản xuất thiết bị y tế, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo, du lịch chất lượng cao, dịch vụ tài chính, logistics và các dịch vụ hiện đại khác; sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh; phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là các ngành nghề mới trên nền tảng công nghiệp 4.0.
 
FDI phải bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng xuất khẩu với đầu tư phát triển sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng và sử dụng nguồn nguyên liệu nội địa, phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nguồn nhân lực trong nước.
 
Thứ hai, về địa phương, vùng, thu hút FDI phải phù hợp với lợi thế, điều kiện, trình độ phát triển và quy hoạch từng địa phương trong mối liên kết vùng, đảm bảo hiệu quả tổng thể kinh tế - xã hội - môi trường.
 
Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách để tạo động lực mới cho thu hút và sử dụng FDI vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu nông nghiệp công nghệ cao.
 
Thứ ba, về thị trường và đối tác, đa phương hóa, đa dạng hóa thu hút FDI từ các thị trường và đối tác tiềm năng. Khai thác có hiệu quả mối quan hệ với các đối tác chiến lược (đối tác toàn diện, đối tác chiến lược toàn diện), chú trọng các nước phát triển hàng đầu thế giới, các tập đoàn xuyên quốc gia nắm giữ công nghệ nguồn, tiên tiến và trình độ quản trị hiện đại. Tập trung thu hút FDI, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia liên kết với doanh nghiệp trong nước hình thành và phát triển cụm liên kết ngành theo từng chuỗi giá trị. Trong ngắn hạn, tiếp tục thu hút FDI vào các ngành mà Việt Nam vẫn đang có lợi thế như dệt may, da giày..., nhưng ưu tiên tập trung vào các khâu tạo giá trị gia tăng cao, gắn với quy trình sản xuất thông minh, tự động hóa.
 
Bên cạnh đó, chủ động, theo dõi, đánh giá xu hướng dịch chuyển dòng FDI vào Việt Nam có công nghệ lạc hậu, không thân thiện với môi trường từ một số nước trong khu vực để lựa chọn thu hút các dự án đầu tư phù hợp với định hướng.
 
Ngoài ra, thu hút FDI từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, dự án quy mô nhỏ, siêu nhỏ phải đảm bảo điều kiện nâng cấp công nghệ và gia nhập mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, phát triển công nghiệp hỗ trợ. Đồng thời, tận dụng lợi thế của Việt Nam trong thị trường ASEAN và cơ hội do các hiệp định thương mại tự do tạo ra để thu hút FDI.
 
ThS. Lê Thị Việt Hằng
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại số tháng 10/2018


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline : 0982002424