Số tạp chí mới

Liên kết

6 tháng đầu năm: Sản xuất công nghiệp và xuất khẩu tăng trưởng khả quan

Đăng lúc: Thứ bảy - 15/07/2017 21:42
(DNTM) Chủ trì cuộc họp báo thường kỳ Quý II/2017 của Bộ Công Thương diễn ra sáng ngày 14/7 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cho biết, trong 6 tháng đầu năm, mặc dù còn nhiều khó khăn cần khắc phục, giải quyết nhưng Bộ đã nỗ lực triển khai hiệu quả những công việc, nhiệm vụ được giao.
Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải thông tin về tình hình ngành Công Thương 6 tháng đầu năm

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải thông tin về tình hình ngành Công Thương 6 tháng đầu năm

Sản xuất công nghiệp tiếp tục xu hướng tăng trưởng tốt

Thông tin về tình hình ngành Công Thương 6 tháng đầu năm, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành (IIP) tiếp tục xu hướng tăng trưởng tốt, 6 tháng đầu năm 2017 tăng 6,2%. Tuy nhiên, mức tăng IIP vẫn thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2016 (7,2%). Nguyên nhân chủ yếu là do ngành khai khoáng sụt giảm và ngành điện tăng thấp. Đáng ghi nhận là nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo tiếp tục xu hướng tăng trưởng tháng sau cao hơn tháng trước và đặc biệt tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ năm 2016 (10,5% so với 10,2%).
 
Nhóm ngành khai khoáng

Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của ngành khai khoáng 6T/2017 giảm 8,2% so với cùng kỳ năm 2016. Tuy nhiên, mức giảm này tiếp tục được thu hẹp dần (5T/2017 giảm 9,1%; 4T/2017 giảm 9,7%, 3T/2017 giảm 11,4%, 2T/2017 giảm 13,5% so với cùng kỳ năm 2016). Cụ thể:

Đối với dầu thô: Sản lượng khai thác 6 tháng đầu năm ước đạt 7,89 triệu tấn, vượt 8,1% so với kế hoạch và bằng 55,6% kế hoạch năm Chính phủ giao, bằng 45,7% kế hoạch năm 2017 đã tăng thêm 1 triệu tấn. Trong đó: khai thác dầu trong nước ước đạt 6,92 triệu tấn, vượt 9,0% so với kế hoạch 6 tháng, bằng 56,4% kế hoạch năm Chính phủ giao, bằng 45,5% kế hoạch năm 2017 đã tăng thêm 1 triệu tấn; khai thác dầu ở nước ngoài ước đạt 0,97 triệu tấn, vượt 1,7% kế hoạch 6 tháng, bằng 51% kế hoạch năm.

Đối với than đá: sản lượng than sạch ước đạt 20,6 triệu tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2016, bằng khoảng 44,5% kế hoạch năm. Ngành than tiếp tục phấn đấu để tăng thêm 2 triệu tấn so với kế hoạch năm 2017.

Đối với các loại khoáng sản khác: tình hình khai thác, chế biến khoáng sản nói chung khởi sắc hơn so với cùng kỳ, sản lượng khai thác các loại khoáng sản ước tăng khoảng 15-20%; giá một số loại khoáng sản và kim loại tăng hơn so với cùng kỳ năm trước; một số mỏ khoáng sản tạm dừng sản xuất năm 2016 đã tiếp tục sản xuất, sản lượng có xu hướng tăng dần.
 
Nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo

Sản xuất công nghiệp của nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo tiếp tục xu hướng tăng trưởng tháng sau cao hơn tháng trước và đặc biệt tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ năm 2016: Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP 6T/2017 của nhóm này tăng 10,5% so cùng kỳ (10,2%). Trong bối cảnh ngành khai khoáng giảm, đây là nhóm đóng vai trò quan trọng, là điểm sáng dẫn dắt tăng trưởng của toàn ngành.
 
Nhìn chung, so với cùng kỳ có nhiều ngành sản xuất trong nhóm có mức tăng trưởng khá. Tuy nhiên, vẫn còn một số ngành có mức tăng trưởng thấp như sản xuất mì ống, mì sợi, thuốc lá, hàng may sẵn, linh kiện điện tử, mô tơ,... Nguyên nhân chính chủ yếu do: nhu cầu tiêu dùng cả trong và ngoài nước đều tăng chậm, sức mua của các thị trường lớn như: Hoa Kỳ, châu Âu giảm, thị trường Nhật Bản cầm chừng; giá nguyên liệu đầu vào tăng hơn so với cùng kỳ nhưng giá sản phẩm không thể tăng cao đã tác động đến sản xuất của các doanh nghiệp nhập khẩu nhiều nguyên liệu.
 
Nhóm ngành sản xuất và phân phối điện

Sản xuất và phân phối điện 6T/2017 tăng trưởng ở mức 8%, thấp hơn so với mức tăng của cùng kỳ năm 2016 (11,2%). Nguyên nhân chính khiến tốc độ tăng chung của nhóm ngành sản xuất và phân phối điện 6 tháng đầu năm 2017 tăng thấp chủ yếu do điện thương phẩm cho nhóm quản lý và tiêu dùng dân cư tăng rất thấp 3,73%, thấp hơn nhiều so với mức tăng của cùng kỳ năm 2016 là 10,6% và của cả năm 2016 là 9,2%. Trong khi đó, điện thương phẩm cho nhóm công nghiệp- xây dựng vẫn tăng cao 11,8%.
 
Xuất khẩu: Khu vực FDI vẫn chiếm tỷ trọng chủ đạo
 
Bộ Công Thương cho biết, kim ngạch xuất khẩu 6T đạt 97,7 tỷ USD, tăng 18,8%, là mức tăng cao so cùng kỳ của năm 2016 (cùng kỳ tăng 5,9%) do tăng được cả về giá (chủ yếu là nhóm nhiên liệu và nông sản) và về lượng (nhóm công nghiệp chế biến chế tạo và khoáng sản); và tăng cao qua các tháng.

Một số điểm đáng chú ý trong hoạt động xuất khẩu:

Thứ nhất, nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản có mức tăng trưởng rất cao. 6T tăng 40,2% với KNXK đạt 2,29 tỷ USD và tăng ở tất cả các mặt hàng xuất khẩu. Trong đó, nổi bật là than đá (tăng 326%), dầu thô (36,2%), xăng dầu các loại (31,2%) chủ yếu do giá xuất khẩu các mặt hàng tăng cao, đặc biệt là than đá có sự tăng trưởng đột phá cả về lượng xuất khẩu.
 
Thứ hai, nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng cao ở mức 19,1% với KNXK đạt 78,56 tỷ USD trong 6T. Trong đó, sự tăng trưởng cao và ổn định của các ngành nhóm ngành công nghiệp mũi nhọn có quy mô xuất khẩu lớn đã đóng góp vào mức tăng chung của nhóm như: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 45,8% với KNXK đạt 11,56 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện tăng 14,9% với KNXK  đạt 19,5 tỷ USD; giầy dép các loại tăng 12,2% với kim ngạch đạt 7 tỷ USD; dệt may tăng 8,5% với KNXK đạt 11,75 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 31,5% với KNXK đạt 5,93 tỷ USD…
 
Xuất khẩu xơ sợi là điểm sáng trong xuất khẩu hàng dệt may với mức tăng trưởng mạnh 26,5% so với cùng kỳ năm trước (kim ngạch đạt 1,67 tỷ USD) và tăng mạnh ở 2 thị trường lớn nhất là Trung Quốc và Hàn Quốc do kết quả của FTA ASEAN- Trung Quốc và FTA Việt Nam- Hàn Quốc (sợi xuất xứ Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc được hưởng thuế suất 0%, trong khi hai đối thủ trực tiếp là Ấn Độ và Pakistan chịu mức 3-5%).
 
Xuất khẩu gỗ đã lấy lại đà tăng trưởng cao của những năm trước đây, đạt 3,66 tỷ USD, tăng 13,9% so với cùng kỳ 2016 (năm 2016 chỉ tăng 1,1%). Một trong những nguyên nhân đóng góp cho sự gia tăng XK là đồ gỗ Trung Quốc bị Hoa Kỳ áp thuế chống bán phá giá giúp các đơn hàng từ Hoa Kỳ dịch chuyển sang các nước xuất khẩu gỗ ở khu vực ASEAN, đặc biệt là Việt Nam. Do vậy, có nhiều cơ hội cho ngành gỗ Việt Nam vào thị trường này ở phân khúc đồ gỗ nội thất.
 
Thứ ba, nhóm hàng nông, lâm- thủy sản tăng 16,7% với KNXK 6T đạt 12,1 tỷ USD. Trong đó nổi bật là sự tăng trưởng cao của nhóm rau quả (tăng 43,5%) và thủy sản (tăng 16,7) với KNXK tăng cao hơn 1 tỷ USD so với cùng kỳ, và sự gia tăng xuất khẩu trở lại của mặt hàng gạo vào các thị trường truyền thống của Việt Nam như Malaysia, Bangladesh, Trung Quốc.
 
Đóng góp vào thành công về tăng trưởng của nhóm hàng nông lâm thủy sản là do công tác phát triển và mở cửa thị trường xuất khẩu, đặc biệt là từ kết quả của các đoàn ngoại giao cấp cao nước ta thời gian qua. Chẳng hạn, hoa quả Việt Nam đã thâm nhập được vào nhiều thị trường có yêu cầu chất lượng cao như Hoa Kỳ (đã cho phép nhập khẩu thanh long ruột trắng, ruột đỏ, chôm chôm, nhãn, vải); Nhật Bản (thanh long ruột trắng, ruột đỏ, xoài), Hàn Quốc (thanh long ruột trắng, ruột đỏ, xoài), New Zealand (xoài, thanh long ruột trắng và đỏ), Úc (vải, xoài)...
 
Thứ tư, về thị trường xuất khẩu, tăng trưởng xuất khẩu vào các thị trường đều cao, đặc biệt là các thị trường có FTA với Việt Nam như xuất khẩu sang ASEAN đạt 10,47 tỷ USD, tăng 27,7%; Hàn Quốc đạt 6,6 tỷ USD, tăng 28,6%; Trung Quốc đạt 13 tỷ USD, tăng 42,9%; Nga đạt 1 tỷ USD, tăng 34,4%. Điều này thể hiện chủ trương đa dạng hóa thị trường xuất khẩu của Chính phủ mà Bộ Công Thương và các bộ, ngành tích cực phối hợp triển khai trong thời gian qua đã mang lại những hiệu quả nhất định, đóng góp quan trọng vào việc duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu.
 
Tuy nhiên, xuất khẩu 6T/2017 vẫn còn điểm đáng lưu ý đó là: Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng xuất khẩu chủ đạo (72,1%) và có mức tăng trưởng cao hơn doanh nghiệp trong nước, tăng 20,4% (kể cả XK dầu thô).
 
Một số vấn đề đáng lưu ý về nhập khẩu
 
Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm đạt 100,5 tỷ USD, tăng 24,1% so với cùng kỳ. Trong đó, KNNK khối DN trong nước đạt 39,8 tỷ USD, tăng 18,1% so với cùng kỳ, khối DN có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 60,66 tỷ USD, tăng 28,4%.
 
Theo Bộ Công Thương, nhập khẩu 6T đầu năm ghi nhận một số điểm nổi bật như sau. Thứ nhất, KNNK của  nhóm cần nhập khẩu đạt 89,7 tỷ USD, chiếm 89,2% tổng KNNK, tăng 25,5% so với cùng kỳ. NK tăng cao ở nhóm hàng cần nhập khẩu gồm máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất, xuất khẩu. Thứ hai, nhập khẩu tăng cao từ các quốc gia có trình độ công nghệ cao như Hoa Kỳ (24,2%) với KNNK đạt 4,7 tỷ USD và tăng thấp ở một số thị trường châu Á như Trung Quốc (15,6%) với KNNK đạt 26,8 tỷ USD.
 
Tuy nhiên, NK 6T/2017 vẫn tồn tại một số vấn đề đáng lưu ý.

Thứ nhất, nhập khẩu vẫn tiếp tục tăng đối với một số mặt hàng cần kiểm soát nhập khẩu với KNNK đạt hơn 6 tỷ USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ. Đáng chú ý là sự tăng cao của mặt hàng rau quả với KNNK đạt 636 triệu USD (tăng 81,7%); sắt thép phế liệu, đạt 583 triệu USD, tăng 59,4%; xe máy và linh kiện phụ tùng, tăng 14,3%.
 
Rau quả NK tăng mạnh do các loại trái cây tại Việt Nam đang trong giai đoạn mất mùa do ảnh hưởng của tình trạng hạn hán và xâm ngập mặn nên nguồn cung trái cây trong nước bị hạn chế; giảm thuế quan từ các Hiệp định Thương mại tự do và đơn giản hóa thủ tục NK hàng hóa nói chung và trái cây nói riêng làm gia tăng các đầu mối NK rau quả nên giá thành trái cây NK giảm (cụ thể: thuế nhập khẩu theo cam kết của Việt Nam tại các FTA như ATIGA, AANZFTA, ACFTA, AKFTA, VKFTA… đều là 0% cho các loại trái cây; chỉ cần giấy kiểm dịch); và DN Việt Nam tăng cường nhập khẩu trái cây từ Thái Lan để chế biến và tái xuất gồm sầu riêng và nhãn.
 
Đối với mặt hàng sắt thép phế liệu do cầu thế giới tăng đối với quặng thép và thép đã dẫn đến giá thế giới tăng. Tại Việt Nam, mức tăng là do một số các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân và triển khai đầu tư xây dựng làm tăng nhu cầu về sắt thép. Ngoài ra, chi phí để sản xuất thép từ phế liệu rẻ hơn so với mua phôi để luyện thép đã dẫn đến các nhà máy luyện thép trong nước lựa chọn NK phế liệu.
 
Thứ hai, NK tiếp tục tăng cao từ khu vực thị trường châu Á (tăng 23,8%), đặc biệt là mức tăng cao kỷ lục từ thị trường Hàn Quốc (51,3%). Nguyên nhân chủ yếu là NK máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu cho sản xuất của nhà máy Samsung.
 
Nhập siêu được  kiểm soát dưới mức mục tiêu
 
Tính chung 6 tháng đầu năm, nhập siêu cả nước ước là 2,78 tỷ USD, chiếm 2,8% KNXK (thấp hơn mức nhập siêu theo mục tiêu cả năm là 3,5% so với KNXK). Đóng góp vào thành tích kiểm soát nhập siêu dưới mức mục tiêu của 6T đầu năm là do:
 
Thứ nhất, nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng và sắt thép, kim loại tăng cao để phục vụ các dự án đầu tư tăng: Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong 6 tháng đầu năm 2017, ước tính tổng vốn FDI thực hiện đạt khoảng 7,72 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2016, tập trung chủ yếu ở lĩnh vực chế biến, chế tạo. Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Điện lực Vĩnh Tân 1, Nhiệt điện Thăng Long cũng tăng cường nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ một số dự án về năng lượng; Viettel tăng nhập khẩu thiết bị phục vụ dự án 4G...
 
Thứ hai, nhu cầu nhập khẩu phục vụ sản xuất: Thông lệ hàng năm, xuất khẩu từ tháng 6 trở đi bắt đầu vào chu kỳ tăng trưởng, đặc biệt là các mặt hàng có kim ngạch lớn như đồ gỗ, dệt may, giày dép... nên các DN gia tăng nhập khẩu để sản xuất các đơn hàng xuất khẩu.
 
Thứ ba, mặt bằng giá thế giới tăng: Tính chung các nhóm hàng có thống kê về lượng nhập khẩu thì sự tăng giảm của yếu tố giá đã làm kim ngạch nhập khẩu tăng thêm khoảng 4,64 tỷ USD.
 
Cung- cầu hàng hóa không có biến động lớn
 
Trong nước, thị trường hàng hóa, đặc biệt là các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày khá bình ổn, nguồn cung hàng hóa của các DN khá dồi dào, đa dạng, giá hàng hóa không có biến động lớn.
 
Tổng mức bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm đạt 1.924.124 tỷ đồng, tăng 10,16% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó các nhóm chính là lương thực, thực phẩm và lưu trú ăn uống có mức tăng cao lần lượt 10,2% và 12%. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ 6 tháng tăng khoảng 8,4%, đây là mức tăng khá tốt trong thời gian khá dài gần đây (từ năm 2011 đến 2016 thường tăng quanh mức 4,8-7,6%) cho thấy sức mua trên thị trường đang có dấu hiệu phục hồi tốt.
 
V.H
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline : 0913535939
Liên hệ nội dung: Việt Hằng : 0989.153.746