hoc tap Bac

Số tạp chí mới

Liên kết

Gỡ bỏ thẻ vàng và mục tiêu xuất khẩu hải sản 3,5 tỷ USD năm 2019

Đăng lúc: Thứ hai - 04/03/2019 08:39
Từ năm 2013 - 2018, xuất khẩu (XK) hải sản của Việt Nam luôn chiếm từ 29-33% tổng giá trị XK thủy sản hàng năm. Sáu năm qua, XK hải sản tăng trưởng liên tục, với mức tăng trung bình hàng năm gần 8%.
Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Năm 2018, giá trị XK hải sản của Việt Nam đạt gần 3 tỷ USD, chiếm 34% tổng giá trị XK thủy sản của Việt Nam, tăng 8,2% so với năm 2017. Trong đó, cá ngừ và mực, bạch tuộc chiếm tỷ trọng cao nhất, tiếp đến là cá biển khác, cua ghẹ và nhuyễn thể hai mảnh vỏ.
 
XK cá ngừ năm 2018 đạt 653 triệu USD, tăng 10% so với năm 2017. Mỹ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Israel và Trung Quốc là 6 thị trường nhập khẩu (NK) cá ngừ chính của Việt Nam. Đáng chú ý, năm 2018 XK cá ngừ của Việt Nam sang Mỹ, EU, Israel và ASEAN đều tăng so với năm 2017, lần lượt là 2%, 11%, 42% và 14%.
 
XK mực, bạch tuộc năm 2018 cũng tăng 8,3%, đạt 672 triệu USD. Trong số các thị trường, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU, ASEAN, Trung Quốc và Mỹ lần lượt là 6 thị trường XK mực, bạch tuộc lớn nhất của Việt Nam. Năm 2018, trong khi XK mực, bạch tuộc sang Hàn Quốc và Nhật Bản tăng lần lượt là 23% và 4%, XK sang EU giảm 22%.
 
Ngoài mực, bạch tuộc và cá ngừ, XK các mặt hàng hải sản khác như cá biển khác, cua ghẹ và giáp xác đều tăng. Trong đó, XK cá biển khác đạt 1,43 triệu USD (bao gồm cả giá trị XK surimi - 324 triệu USD, tăng 8,1%. XK cua ghẹ và giáp xác khác đạt 134 triệu USD, tăng 14%.
 
Năm 2018, chỉ duy nhất nhóm hàng nhuyễn thể hai mảnh vỏ có sự sụt giảm về XK, giá trị XK đạt 89 triệu USD, giảm 10%.
 
Năm 2018, XK hải sản của Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn và thách thức.
 
Thứ nhất, việc bị thẻ vàng cảnh báo của EU vì những nỗ lực của Việt Nam chưa đủ để chống khai thác bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) đã tác động làm giảm XK hải sản Việt Nam sang khối thị trường này. XK các sản phẩm hải sản sang EU đều giảm từ 4–20%, trừ XK cá ngừ. Giá trị XK cá ngừ năm 2018 tăng 11,5% so với năm 2017, tuy nhiên mức tăng trưởng này chỉ bằng ½ mức tăng trưởng của năm 2017 (23%).
 
Thứ hai, do sản lượng khai thác không đủ để đáp ứng nhu cầu chế biến XK, các doanh nghiệp hải sản của Việt Nam đang phải gia tăng NK nguyên liệu từ các nước. Năm 2018, NK hải sản của Việt Nam đạt 1,25 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2017, chiếm 73% tổng NK thủy sản. Tuy nhiên, hiện tại khi NK hải sản về để chế biến XK doanh nghiệp đang gặp nhiều vướng mắc trong thủ tục xác nhận, chứng nhận thủy sản khai thác. Ngoài ra, ngành thủy sản Việt Nam đang còn rất nhiều bất cập và thiếu đồng bộ trong quy định và cơ sở hạ tầng, kỹ thuật.
 
Thứ ba, từ ngày 01/01/2018 Chương trình Giám sát NK thủy sản (SIMP) của Mỹ áp dụng đối với 12 loài thủy sản đã được áp dụng. Theo đó, sản phẩm XK sang Mỹ phải tuân thủ theo bộ quy tắc mới về truy xuất nguồn gốc. Dữ liệu của toàn bộ quá trình từ nuôi trồng hay đánh bắt đến khi NK phải được khai báo và lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của NOAA. Do đó, việc thu mua nguyên liệu đáp ứng các yêu cầu của thị trường trở nên khó khăn hơn.
 
Thứ 4, Chứng nhận An toàn cá heo của tổ chức EII. Hầu hết sản phẩm cá ngừ nếu không được cấp chứng nhận “An toàn cá heo” không được chấp nhận tại Mỹ, EU, Canada, Australia, New Zealand… Do đó, điều kiện tiên quyết khi tham gia vào ngành chế biến cá ngừ XK là phải tham dự chương trình “An toàn cá heo” của EII.
 
Bên cạnh đó, các sản phẩm hải sản sau thu hoạch của Việt Nam chất lượng thấp, do đó không đủ nguyên liệu để sản xuất XK, gây lãng phí nguồn lợi, dẫn đến việc lạm thác tăng.
 
Trước những thách thức đó, năm 2019 dự kiến XK hải sản sẽ vẫn tiếp tục tăng 17%, đạt 3,5 tỷ USD. Trong đó XK cá ngừ do còn dư địa để đẩy mạnh XK, như tăng nguồn cung nguyên liệu từ NK, đồng thời việc tận dụng cái lợi thế và thuế quan từ các hiệp định thương mại đã được ký kết giữa Việt Nam và các nước, bên cạnh đó nâng cao chất lượng các sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh. Dự kiến giá trị XK cá ngừ sẽ đạt 1 tỷ USD, tăng 50% so với năm 2018.
 
Còn XK các mặt hàng hải sản khác sẽ duy trì ổn định hoặc tăng nhẹ. Cụ thể, XK cá biển khác đạt 1,5 tỷ USD, tăng 7%; XK mực, bạch tuộc đạt 750 triệu USD, tăng 8%; còn XK hải sản khác đạt 250 triệu USD.
 
Về phía thị trường, XK sang Nhật Bản dự kiến đạt 900 triệu USD, tăng 27%. Trong đó, tập trung các mặt hàng cá biển và surimi (các mặt hàng đang chiếm 70% XK hải sản sang thị trường này), đây là các mặt hàng đang có đà tăng mạnh (tăng 40% lên 675 triệu USD). Ngoài ra, đẩy mạnh sản xuất hàng giá trị gia tăng sang thị trường Nhật Bản.
 
XK sang Hàn Quốc dự kiến sẽ đạt 600 triệu USD, tăng 27%. Do, Việt Nam và Hàn Quốc đã ký hiệp định thương mại tự do, nên các doanh nghiệp sẽ tận dụng ưu đãi thuế quan từ FTA. Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh XK tất cả các mặt hàng hải sản, Tăng cường XK mực bạch tuộc thêm 30% lên 350 triệu USD, cá biển khác tăng 20% lên 230 triệu USD.
 
XK sang Mỹ dự kiến đạt 480 triệu USD, tăng 10%. Trong đó, đẩy mạnh XK cá ngừ, tăng 20% lên 280 triệu USD (tập trung xuất cá loin, phile đông lạnh). Đồng thời, tăng XK cá biển thêm 15% lên 140 triệu USD, tiếp tục gia tăng XK mực, bạch tuộc và cua ghẹ.
 
XK sang EU dự kiến đạt 420 triệu USD, tăng 8%. Trong đó, tăng XK cá ngừ 25% lên 200 triệu USD. Ngoài ra, thực hiện tốt chứng nhận xác nhận hải sản khai thác, đẩy mạnh XK các mặt hàng khác như mực, bạch tuộc và cá biển. Bên cạnh đó, tập trung tháo gỡ thẻ vàng, và tận dụng ưu đãi thuế quan từ Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA) để tăng XK sang khối thị trường này.
 
XK sang ASEAN dự kiến đạt 480 triệu USD, tăng 18%. Trong đó, đẩy mạnh XK cá biển thêm 11% lên 300 triệu USD, tăng XK cá ngừ và mực bạch tuộc lên 60 triệu và 100 triệu USD.
 
Và để hoàn thành các mục tiêu này, cả ngành XK hải sản cần phải tập trung ưu tiên gỡ bỏ thẻ vàng. Trong đó, tiếp tục các giải pháp và kế hoạch cải thiện nhằm giải quyết vấn đề thẻ vàng EU, doanh nghiệp và Bộ NN&PTNT tiếp tục cùng thực hiện các khuyến nghị của EU, tập trung làm tốt công tác hồ sơ C/C, từ đó nhanh chóng gỡ bỏ thẻ vàng IUU để tạo tâm lý tốt để các nhà NK yên tâm đặt hàng nhiều hơn.
 
DN phối hợp với ngư dân tham gia chuỗi sản xuất để đảm bảo chất lượng sau thu hoạch, nâng cao giá trị sản phẩm khai thác. Ngoài ra, doanh nghiệp nên gia tăng NK nguyên liệu hải sản hợp pháp để gia công/chế biến XK theo hướng có chọn lọc đối tượng khách hàng nhằm đảm bảo đạt giá trị XK cao; chủ động mở rộng và đa dạng hóa thị trường, tránh phụ thuộc vào thị trường EU và một số thị trường chính khác; đẩy mạnh sản xuất hàng giá trị gia tăng, hàng chất lượng cao để tăng giá trị. Bên cạnh đó, cần phải quan tâm XK sang các thị trường Việt Nam đã ký các FTA (Nhật Bản, EU, Hàn Quốc, các nước tham gia CPTPP), tận dụng tối đa ưu đãi thuế quan.
 
Còn về chương trình Giám sát An toàn cá heo của EII tại cảng cá: Bộ, Tổng cục Thủy sản và cơ quan địa phương hỗ trợ và phối hợp cùng VASEP và các doanh nghiệp cá ngừ.
 
(Trích bài trình bày của bà Nguyễn Thị Thu Sắc, Phó Chủ tịch VASEP, Chủ tịch Ủy ban Hải sản VASEP tại “Hội nghị Triển khai kế hoạch XK thủy sản năm 2019”)


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline toà soạn: 0913535939
Văn phòng phía Nam: 0982002424