hoc tap Bac

Số tạp chí mới

Liên kết

Tổng kết 12 năm thực hiện Đề án 47

Đăng lúc: Thứ sáu - 26/04/2019 10:53
Thông qua Hội nghị tổng kết bước đầu Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 (Đề án 47), Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổng kết, đánh giá toàn diện những kết quả đạt được sau hơn 12 năm thực hiện Đề án 47, từ đó đề xuất các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp để xây dựng Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 36/NQ-TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Các kết quả của Đề án 47 có vai trò, ý nghĩa quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển và hải đảo
 
Hội nghị đánh giá Đề án 47 là một nhiệm vụ lớn, mang tính tổng thể, đa ngành, đa lĩnh vực với sự tham gia của nhiều Bộ, ngành và địa phương. Các kết quả của Đề án có vai trò, ý nghĩa và làm cơ sở, tiền đề quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển và hải đảo. Sau hơn 12 năm triển khai thực hiện, thông qua Đề án đã tiến hành điều tra, khảo sát, thu thập các số liệu, dữ liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; bước đầu đã đầu tư, mua sắm một số trang thiết bị hiện đại có thể điều tra, khảo sát ở vùng biển sâu, biển xa, đào tạo, nâng cao năng lực trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ kỹ thuật có khả năng làm chủ công nghệ, thiết bị điều tra hiện đại; xây dựng thể chế, chính sách về biển; góp phần phát triển bền vững kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền, quốc phòng, an ninh trên biển...
 
Nhìn chung, về ưu điểm, (i) Công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã được quan tâm, đẩy mạnh hơn nhiều, bước đầu khắc phục được một số tồn tại, hạn chế trong những giai đoạn trước đây. (ii) Mục tiêu, nhiệm vụ của các dự án, nhiệm vụ điều tra cơ bản trong Đề án 47 khá rõ ràng, xuất phát từ nhu cầu của các ngành kinh tế biển và các lĩnh vực quản lý biển. Hoạt động điều tra nghiên cứu tương đối quy mô, có tính hệ thống, có tính liên kết hơn, các số liệu, kết quả điều tra có độ tin cậy, đồng bộ hơn; (iii) Đã bước đầu đổi mới, áp dụng công nghệ cao trong điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đầu tư được một số trang thiết bị hiện đại để thực hiện điều tra ở vùng biển sâu, biển xa, hải đảo; (iv) Một số lĩnh vực đã tiến hành điều tra ở vùng biển sâu, biển xa, vùng biển quốc tế liền kề nhằm thu thập số liệu tài nguyên, môi trường biển phục vụ phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh, làm cơ sở đấu tranh, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên biển,...
 
Bên cạnh đó, còn một số hạn chế như sự phối hợp chưa hiệu quả giữa các Bộ, ngành trong việc triển khai thực hiện, chia sẻ kết quả, dữ liệu; hợp tác quốc tế trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ, dự án còn hạn chế; công tác điều tra cơ bản ở vùng biển xa, biển sâu chưa được chú trọng; kinh phí đầu tư cho công tác điều tra cơ bản còn chưa đáp ứng được kế hoạch đề ra của Đề án;...
 
Xây dựng Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trong giai đoạn mới
 
Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường có đề xuất với Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương có biển triển khai các nhiệm vụ giải pháp như:
 
Một là, tiếp tục triển khai các nhiệm vụ, dự án thuộc Đề án 47. Bộ đề xuất Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan tiếp tục triển khai các dự án đã được phê duyệt trước thời điểm ngày 01/7/2016 theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; cho phép chuyển tiếp các dự án đang triển khai thuộc Đề án 47 sang Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo theo quy định tại khoản 2, Điều 69 Nghị định số 40/2016/NĐ-CP.
 
Hai là, xây dựng Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Bộ đề xuất Chính phủ cho phép Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan: (i) tiếp tục rà soát, đánh giá và lựa chọn một số dự án phù hợp, cấp bách do các bộ, ngành và địa phương có liên quan đề xuất đưa vào Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, hoàn thiện dự thảo văn bản trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt; (ii) nghiên cứu, xây dựng và đề xuất các phương án tổ chức, quy chế quản lý thống nhất thực hiện Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình.
 
Ba là, tiếp tục triển khai một số nhiệm vụ cấp bách khác. Bộ đề xuất Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành và địa phương có biển: (i) tiếp tục thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 01/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; (ii) xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ, chính sách đãi ngộ đặc thù cho lực lượng làm công tác điều tra, khảo sát tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; (iii) xây dựng cơ chế, chính sách thu hút, khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế trong công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; (iii) xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật, quy trình công nghệ về điều tra cơ bản phục vụ quản lý công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; xây dựng cơ chế phối hợp trong triển khai thực hiện dự án, đặc biệt là các dự án điều tra tổng hợp, liên vùng, liên ngành nhằm sử dụng có hiệu quả tài liệu, kết quả, phương tiện, trang thiết bị, nhân lực hiện có của các bộ, ngành.
 
Tóm tắt kết quả của Đề án 47
 
(1) Đo đạc, thành lập bản đồ địa hình đáy biển và hải đồ: Đã thành lập hải đồ tỷ lệ 1:200.000 trên diện tích khoảng 533.000 km2, đạt 53,3% diện tích các vùng biển Việt Nam.
 
(2) Địa chất khoáng sản biển: Đã hoàn thành được 147.330km2 ở tỷ lệ 1:500.000, nâng tỷ lệ điều tra 1:500.000 lên khoảng 24,5% ở tỷ lệ 1:100.000, hoàn thành thêm 20.768km2, tương ứng khoảng 2,77% diện tích các vùng biển Việt Nam chủ yếu tập trung ở khu vực biển nông ven bờ, độ sâu từ 0 đến 100m nước.
 
(3) Địa chất công trình: bước đầu đã điều tra khảo sát, lập bản đồ địa chất công trình tỷ lệ 1:100.000 trên diện tích 16.829 km2 ven biển, khoanh định được các khu vực kém ổn định về địa chất công trình, xác định các quá trình địa chất công trình như hiện tượng ngập lụt, xói lở, bồi tụ... Tiến hành điều tra và thành lập các bản đồ địa chất công trình từ tỷ lệ 1:1000 - 1:500 ở vùng biển quần đảo Trường sa và DKI.
 
(4) Dầu khí: Đã đánh giá tiềm năng dầu khí trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, theo đó đánh giá tổng tiềm năng dầu khí của các cấu tạo triển vọng là 2.628,3 triệu m3 dầu và 3.052,56 tỷ m3 khí, tương đương 5.680,86 triệu m3 dầu quy đổi, đã xác định được các vùng có tiềm năng dầu khí cao.
 
(5) Tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học: Bước đầu đánh giá được nguồn lợi hải sản theo các tầng tại vùng biển ven bờ của Việt Nam, đánh giá được hiện trạng đa dạng sinh học về hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặt, bãi bồi, cửa sông, đầm phá; phát hiện và bổ sung vào danh mục một số loài san hô mới, đánh giá được hiện trạng và diện tích bao phủ rạn san hô, rừng ngập mặn; xây dựng được bộ bản đồ về hiện trạng phân bố hệ sinh thái rừng ngập mặn, đầm phá ven biển; phân bố cỏ biển; phân bố cỏ biển cho các tiểu vùng; phân bố cỏ biển tại các vùng khảo sát; phân bố nguồn lợi hải sản tầng đáy ở biển tỷ lệ 1/500.000 - 1/2.000.000; đã lập quy hoạch chi tiết 7 khu bảo tồn biển.
 
(6) Trang bị được hệ thống thiết bị điều tra, khảo sát biển hiện đại, bao gồm: thiết bị khảo sát địa chất, địa vật lý, thiết bị đo thủy âm và trắc địa biển, thiết bị lấy mẫu, bảo quản, gia công, phân tích mẫu và các phần mềm xử lý, minh giải tài liệu địa chấn đa kênh
 
(7) Đã xác lập các luận cứ khoa học, pháp lý về địa chất, địa mạo, môi trường, từ trường và hệ thống bản đồ phòng thủ; xây dựng công trình quốc phòng trên biển (DKI), các số liệu, dữ liệu phục vụ các hoạt động tàu, thuyền quân sự, những thông tin về hoạt động phi pháp của nước ngoài thông qua ảnh, bản đồ viễn thám.
 
nguồn: Cổng TTĐT Bộ Tài nguyên và Môi trường
 


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline toà soạn: 0913535939
Văn phòng phía Nam: 0982002424