Số tạp chí mới

Liên kết

Nhận diện các hành vi gây thất thu thuế ở nhóm doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Đăng lúc: Thứ tư - 03/05/2017 15:01
Tổng cục Thuế cho biết, hiện nay vẫn còn tình trạng thất thu ngân sách, nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, trong đó tập trung những lĩnh vực như xây dựng cơ bản, khai thác tài nguyên, khoáng sản, kinh doanh phương tiện vận tải tư nhân, kinh doanh vật liệu xây dựng, kinh doanh thương mại điện tử bán hàng qua mạng, xe máy, khách sách sạn, nhà hàng ăn uống, cho thuê tài sản...
Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, cơ quan Thuế đã nhận diện các hành vi vi phạm như:   Hành vi bỏ ngoài sổ sách kế toán - đây là thủ đoạn khá phổ biến hiện nay. Theo đó, người nộp thuế thường sử dụng đồng thời hai hệ thống sổ sách kế toán, một hệ thống sổ kế toán nội bộ phản ánh đầy đủ các giao dịch kinh tế, hệ thống kế toán còn lại chỉ phản ánh một phần các giao dịch kinh tế để khai thuế. Kiểu hành vi này thường xảy ra ở các doanh nghiệp (DN) dân doanh hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ, ăn uống, khách sạn, xây dựng dân dụng và sản xuất nhỏ. Đây chính là một kiểu hoạt động kinh tế mà môi trường thuận lợi của nó là nền kinh tế tiền mặt. Rất khó có thể xác định được số thuế thất thu do hành vi trốn thuế này gây ra vì nếu xác định được thì đã không xảy ra thất thu thuế.
Tạo giao dịch mua hàng giả mạo - đây là hành vi trốn thuế khá phổ biến hiện nay, thực tế DN không có khoản chi này nhưng đã tự tạo ra chứng từ để hợp pháp hóa khoản chi không có thực, vì thế có thể gọi đây là chi khống. Chi khống thể hiện qua những bảng kê thanh toán giả mạo với chữ ký giả, hợp đồng lao động giả mạo (có trường hợp tên người lao động không có thật; có trường hợp tên người lao động là có thật nhưng thực sự không làm việc cho DN đó) và thể hiện ở những hóa đơn đi mua của cơ sở kinh doanh khác. Bằng hành vi này, DN không chỉ trốn thuế thu nhập DN mà còn trốn cả thuế GTGT thông qua việc khấu trừ khống thuế GTGT đầu vào.
Thủ đoạn tạo giao dịch mua hàng giả mạo không hoàn toàn trùng với thủ đoạn thành lập DN “ma”, do việc tạo giao dịch mua hàng giả mạo không chỉ thực hiện thông qua hành vi mua hóa đơn, song giữa chúng có mối liên hệ mật thiết. DN “ma” là DN được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhưng thực tế không sản xuất kinh doanh, chỉ nhằm mục đích đủ điều kiện để được phát hành hoá đơn, từ đó bán hóa đơn cho các đối tượng khác hoặc trung gian lập hoá đơn mua bán khống, lập hồ sơ giả mạo để xin hoàn thuế.
Ghi giá bán thấp hơn giá thực tế - hành vi này được gọi là “down” giá. Đây là hành vi ghi giá bán trên hóa đơn và kê khai doanh thu tính thuế thấp hơn giá khách hàng thực tế thanh toán. Hành vi này thường gặp ở các DN kinh doanh nhà hàng khách sạn, vận tải tư nhân, xăng dầu, kinh doanh vật liệu xây dựng, bán ô tô và xe máy, hàng trang trí nội thất... Các công ty xây dựng (nhà dân và đơn vị xây dựng vãng lai) khi thi công các công trình ở các địa phương khác hay xây nhà tư nhân thường khai báo không trung thực, không kê khai hoặc giấu bớt một phần công trình. Hành vi gian lận này làm giảm thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp, gây ảnh hưởng không nhỏ đến số thu ngân sách hàng năm.
Các dạng hạch toán sai nhằm tăng chi phí được trừ tính thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ chủ yếu là: hạch toán toàn bộ chi phí mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ bản vào chi phí quản lý DN; đưa khấu hao tài sản cố định phúc lợi vào chi phí khấu hao tài sản cố định; tài sản cố định hết thời gian khấu hao vẫn trích khấu hao; hạch toán vào chi phí được trừ các khoản chi từ thiện, các khoản chi thuộc nguồn kinh phí khác đài thọ, chi mang tính chất tiêu dùng cá nhân của chủ DN...
Một số hành vi vi phạm đối với các doanh nghiệp lỗ, các doanh nghiệp quan hệ giao dịch liên kết có dấu hiệu chuyển giá: Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thông qua việc góp vốn vào doanh nghiệp Việt Nam bằng máy móc, thiết bị và công nghệ. Giá trị máy móc thiết bị công nghệ do nhà đầu tư nước ngoài góp thường mang tính đặc thù, đã bị lạc hậu hoặc đã khấu hao hết nhưng lại được đẩy lên rất cao so với giá trị thực của nó, nâng khống giá trị vốn góp, gây thất thu cho NSNN và bất lợi cho doanh nghiệp Việt Nam; thông qua bán hàng hoá, nguyên vật liệu thấp hơn nhiều so với giá bán cho các bên không có quan hệ liên kết; thông qua chuyển giao công nghệ: cùng với việc góp vốn vào doanh nghiệp Việt Nam bằng máy móc, thiết bị hoặc bán máy móc thiết bị cho doanh nghiệp liên kết tại Việt Nam, các doanh nghiệp nước ngoài còn thực hiện chuyển giao công nghệ sản xuất kinh doanh cho bên liên kết tại Việt Nam và thu tiền bản quyền…
Các tập đoàn công ty mẹ tại nước ngoài ký hợp đồng sản xuất kinh doanh và dịch vụ với các công ty của các nước với đơn giá gia công sản xuất dịch vụ rất cao, sau đó các tập đoàn công ty mẹ này giao lại các hợp đồng này cho các công ty con thành lập tại Việt Nam thực hiện sản xuất gia công dịch vụ và xuất thẳng cho các công ty mà công ty mẹ đã ký hợp đồng, nhưng lại không thu được tiền trực tiếp từ các công ty đã xuất hàng hoá dịch vụ mà lại thu tiền theo đơn giá gia công sản xuất dịch vụ do công ty mẹ quy định với đơn giá gia công sản xuất dịch vụ rất thấp; thông qua chi trả lãi vay vốn sản xuất kinh doanh. Giá bán hàng hóa dịch vụ xuất khẩu cho nước ngoài, chủ yếu bao tiêu sản phẩm qua công ty mẹ có hiện tượng giá bán hoặc giá gia công thấp hơn giá vốn dẫn đến kết quả sản xuất kinh doanh liên tục lỗ mất vốn nhiều năm; Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ, tiêu dùng có các nhãn hàng nổi tiếng bên nước ngoài thường định giá tiền bản quyền thương hiệu rất cao so với giá trị thực.
Nguyên nhân là do công tác quản lý thuế vẫn còn một số hạn chế như: Về cơ chế chính sách: hệ thống chính sách thuế vẫn còn lồng ghép nhiều chính sách xã hội, còn nhiều mức miễn, giảm thuế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lách thuế, dễ phát sinh tiêu cực giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý; chính sách thuế liên tục thay đổi, giữa các sắc thuế trong hệ thống chính sách thuế còn thiếu sự kết hợp hài hoà, giữa mục tiêu số thu cho ngân sách và mục tiêu kích thích sản xuất phát triển và điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua từng sắc thuế.
Chức năng và quyền hạn của thanh tra thuế còn bị bó hẹp chưa trở thành công cụ có hiệu lực để thống nhất thu ngân sách và răn đe, ngăn chặn các hành vi vi phạm về thuế. Chức năng điều tra các hành vi trốn thuế, gian lận tiền thuế chưa được quy định là một chức năng của cơ quan thuế. Mục đích của việc thực hiện các biện pháp điều tra thuế là nhằm phát hiện, ngăn chặn các hành vi trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế để thu đúng, đủ, kịp thời số thuế phải nộp; Hiệu quả và chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra còn hạn chế; công tác theo dõi, đôn đốc thực hiện kết luận sau thanh tra, kiểm tra đã được quan tâm chưa thực hiện thường xuyên và chưa có biện pháp tích cực xử lý những doanh nghiệp cố tình không thực hiện nghiêm túc kết luận thanh tra, kiểm tra.
Một trong những thách thức hiện nay trong công tác quản lý là quá nhiều mức thuế và số lượng lớn các khoản miễn giảm và ưu đãi thuế. Khả năng linh hoạt di chuyển dòng vốn và các hoạt động ngày càng tăng của các công ty nước ngoài sẽ đòi hỏi loại bỏ gánh nặng về thuế gây ra đối với doanh nghiệp, và cần phải đưa ra những biện pháp quản lý thuế quốc tế tốt hơn để tránh những hành vi chuyển giá trốn thuế. Những thách thức này sẽ lớn hơn trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế chậm lại và sự mất ổn định kinh tế.
Nhiệm vụ đặt ra đối với ngành thuế trong thời gian tới, liên tục cập nhật và phổ biến các thủ đoạn gian lận thuế: Việc nhận diện các hành vi, thủ đoạn gian lận thuế của người nộp thuế là cơ sở để cơ quan quản lý thuế ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp gian lận thuế. Trong trường hợp ngày càng phát sinh nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, nhiều phương thức giao dịch như hiện nay, các thủ đoạn gian lận thuế cũng không ngừng gia tăng, ngày càng đa dạng, tinh vi, nên việc cập nhật, nhận biết các thủ đoạn gian lận, phục vụ cho công tác quản lý thuế là rất cần thiết.
 
theo bcd389.gov.vn

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline : 0913535939
Liên hệ nội dung: Việt Hằng : 0989.153.746