Số tạp chí mới

Liên kết

Đổi mới công nghệ trong sản xuất: Thành tựu và tồn tại

Đăng lúc: Thứ năm - 10/07/2014 14:02
(DNTM) Những năm gần đây, các Bộ, ngành đã thể hiện sự quan tâm và xây dựng nhiều chương trình hỗ trợ thu hút, khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ (KHCN).
Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Có thể kể đến những chương trình nổi bật như: Chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ trọng điểm quốc gia phát triển công nghiệp hóa dược đến năm 2020 của Bộ Công Thương; Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn; Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông” của Bộ Thông tin và Truyền thông…
Nhiều thành tựu trong đổi mới công nghệ sản xuất
Đáng chú ý, nhiều thành tựu về ứng dụng đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực then chốt của các quốc gia đã được ghi nhận.
Trong lĩnh vực công nghiệp, việc ứng dụng và đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp đã góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp tăng trưởng cao liên tục những năm qua. Có thể kể tới một số kết quả điển hình: Làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo hệ thống thiết bị cơ khí thủy công cho các nhà máy thủy điện công suất lớn (trong đó có thủy điện Sơn La); giàn khoan tự nâng ở độ sâu 90m nước phù hợp với điều kiện Việt Nam; dàn chống tự hành phù hợp đối với điều kiện địa chất các vỉa có độ dốc đến 35o tại vùng Quảng Ninh; công nghệ luyện thiếc chất lượng cao phục vụ xuất khẩu; công nghệ sản xuất thuốc tập hợp tuyển quặng Apatit loại III Lào Cai; nghiên cứu làm rõ tiềm năng dầu khí và chính xác hóa trữ lượng dầu khí toàn khu vực thềm lục địa và lãnh thổ Việt Nam; phát triển công nghệ khai thác dầu trong đá móng nứt nẻ, góp phần quan trọng vào công tác tìm kiếm, phát hiện và khai thác có hiệu quả các mỏ dầu trong đá móng nứt nẻ trước Đệ tam thềm lục địa Việt Nam.
Trong lĩnh vực giao thông, xây dựng, các doanh nghiệp đã làm chủ các công nghệ tiên tiến trong thiết kế, giám sát, thi công, xây lắp các công trình giao thông, xây dựng có quy mô và trình độ công nghệ ngang tầm với các nước trong khu vực; công nghệ thiết kế, chế tạo các loại vật liệu xây dựng mới, thiết bị; tiếp cận và làm chủ các công nghệ đúc hẫng cân bằng thi công cầu bê tông dự ứng lực khẩu độ lớn, công nghệ thi công cầu treo và cầu dây văng nhịp lớn, công nghệ xây dựng dạng kết cấu vòm thép nhồi bê tông, công nghệ cọc đất gia cố xi măng trong xây dựng xây dựng cảng biển, sân bay; làm chủ công nghệ đóng tàu biển từ 6.500 đến 53.000 tấn, tàu chở dầu thô 115.000 tấn, kho nổi chứa dầu thô 150.000 tấn…
Những tồn tại chủ yếu
Mặc dù đến nay đã có nhiều doanh nghiệp quan tâm, đầu tư và tận dụng tốt các cơ chế, chính sách hỗ trợ của Nhà nước để đổi mới, phát triền công nghệ phục vụ việc nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm hàng hóa và đặc biệt là năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số lượng không nhỏ các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến các hoạt động KHCN. Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị trung bình trong giai đoạn 2010 – 2012 của các doanh nghiệp Việt Nam chỉ đạt khoảng 9,7%. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
Thứ nhất, các doanh nghiệp ở Việt Nam phần đông có quy mô vừa và nhỏ, chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp. Trong số đó, các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất trực tiếp chỉ chiếm tỷ lệ thấp. Do vậy, không có nhiều nhu cầu và động lực thực hiện các nỗ lực đổi mới, phát triển công nghệ thông qua các nhiệm vụ KHCN. Hơn nữa, do quy mô doanh nghiệp nhỏ nên khả năng huy động kinh phí để tổ chức hoạt động nghiên cứu sẽ gặp nhiều khó khăn hơn các doanh nghiệp lớn.
Bên cạnh đó, theo nghiên cứu khảo sát của Viện Quản lý kinh tế trung ương, các doanh nghiệp Nhà nước do vẫn nhận được những bao cấp trong phát triển sản xuất, kinh doanh nên ít quan tâm đến phát triển năng lực công nghệ lâu dài.
Thứ hai, các chính sách của Nhà nước liên quan đến thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp đến nay cơ bản mới tác động theo hướng “khuyến khích” chứ không có những “ép buộc” hoặc có “chế tài” cần thiết để doanh nghiệp phải có thêm những ưu tiên cho việc thực hiện nghiên cứu, đổi mới công nghệ.
Thứ ba, các cơ chế khuyến khích, ưu đãi về thuế, tín dụng và đất đai liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ của doanh nghiệp được thực hiện không nhất quán, đồng bộ do mức độ nhận thức khác nhau giữa các bộ, ngành và cấp chính quyền địa phương. Nói cách khác là cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, lĩnh vực và các ngành, các cấp chưa thông suốt, chưa đồng bộ dẫn đến việc thực thi các cơ chế, chính sách của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu và nhu cầu của đời sống, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp.
Thứ tư, việc xác định và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách Nhà nước vẫn còn những bất cập, thủ tục còn phức tạp với các doanh nghiệp muốn tham gia hoạt động nghiên cứu.
Thứ năm, cơ chế và chính sách tài chính hiện hành trong hoạt động khoa học và công nghệ còn những hạn chế, chưa phù hợp với đặc thù của hoạt động khoa học và công nghệ, làm giảm năng lực sáng tạo, gây khó khăn cho các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp tham gia thực hiện.
Thứ sáu, thị trường KHCN ở nước ta còn sơ khai, chưa phát triển đúng với tiềm năng. Nguồn cung công nghệ trong nước còn nghèo nàn; số lượng và chất lượng giao dịch công nghệ còn hạn chế; mạng lưới tổ chức dịch vụ mua bán, chuyển giao công nghệ chưa phát triển; môi trường pháp lý để thị trường công nghệ vận hành còn chưa đồng bộ, cơ chế thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ còn yếu kém. Các tổ chức KHCN trong nước chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu của các tổ chức này áp dụng vào sản xuất kinh doanh không cao, chưa có nhiều đề tài được cấp bằng bảo hộ sáng chế. Việc hình thành các tổ chức trung gian, môi giới công nghệ mới ở giai đoạn khởi đầu.
 
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 đã xác định mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7 – 8%/năm; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 3.000 USD. Xây dựng cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả. Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP. Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP. Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Nông nghiệp có bước phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng đạt khoảng 35%.
 
------------------------------------
·        Trích tham luận của Bộ KH&CN tại Diễn đàn “Phát triển doanh nghiệp và chất lượng tăng trưởng”, HN – tháng 4/2014.
·        Tít trong bài do BBT đặt.
 
T.N (ghi)

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline : 0913535939
Liên hệ nội dung: Việt Hằng : 0989.153.746