Số tạp chí mới

Liên kết

10 năm hội nhập của Việt Nam: Thành tựu, hạn chế và định hướng thời gian tới

Đăng lúc: Thứ tư - 07/02/2018 01:50
(DNTM) Kể từ khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007, đến nay Việt Nam đã trải qua 10 năm hội nhập quốc tế với nhiều kết quả, thành tựu đáng kể, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước; đồng thời ngày càng khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, Việt Nam kiên trì chủ trương hội nhập toàn diện với trọng tâm là HNKTQT. Ảnh: Việt Hằng

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, Việt Nam kiên trì chủ trương hội nhập toàn diện với trọng tâm là HNKTQT. Ảnh: Việt Hằng

So với giai đoạn trước khi gia nhập WTO, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) của nước ta từ năm 2007 đến nay được thực hiện qua các tuyến đa dạng hơn như: Chủ động, tích cực xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN; chủ động ký kết các FTA song phương với các đối tác quan trọng; tham gia Hiệp định FTA với tính chất nhiều bên...
 
Tác động tích cực tới phát triển kinh tế - xã hội đất nước
 
Nhờ từng bước thực hiện hiệu quả công tác HNKTQT, môi trường kinh tế vĩ mô ngày càng thuận lợi hơn cho việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong nước. Từ việc phụ thuộc nhiều vào biến động nhanh và mạnh trên thị trường thế giới, lạm phát đã được duy trì ở mức ổn định, hợp lý. Nhờ đó, tăng trưởng kinh tế đã phục hồi vững chắc hơn trong những năm gần đây, đi kèm với ít rủi ro về lạm phát và mất cân đối vĩ mô.
 
Giai đoạn 2007-2017 chứng kiến nỗ lực thực thi cam kết WTO và một loạt FTA có trình độ/yêu cầu đa dạng phù hợp với năng lực của nhiều nhóm doanh nghiệp. Do đó, xuất khẩu hàng hóa giữ xu hướng tăng, tốc độ tăng xuất khẩu bình quân ước đạt 16,6%/năm. Dù thấp hơn so với giai đoạn 2000-2006 (19,4%/năm), song mức tăng trưởng này vẫn rất ấn tượng trong bối cảnh kinh tế thế giới hứng chịu tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Riêng năm 2017, các doanh nghiệp (đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) đã tận dụng cơ hội từ các FTA và sự phục hồi kinh tế thế giới để đạt tăng trưởng xuất khẩu trên 21%. Kim ngạch xuất khẩu năm 2017 đã bằng 4 lần so với năm 2007.
 
Nhập khẩu hàng hóa đã được định hướng để phục vụ tốt hơn nhu cầu đầu tư, sản xuất trong nước. Tốc độ nhập khẩu trung bình đạt 15,1%/năm trong giai đoạn 2007-2017, thấp hơn đáng kể so với giai đoạn 2000-2006 (21,1%/năm).
 
Theo đó, cán cân thương mại hàng hóa được cải thiện đáng kể. Tỷ lệ nhập siêu so với GDP giảm liên tục từ mức 20% trong các năm 2007-2008 xuống còn 8,2% năm 2011, sau đó chuyển sang thặng dư trong khoảng từ 0,1-1,2% GDP trong các năm 2012-2017. Kết quả này có sự cải thiện đáng kể so với giai đoạn 2000-2006 (thâm hụt thương mại trung bình khoảng 8% GDP).
 
Cùng với xu hướng mở rộng thương mại hàng hóa, nền kinh tế Việt Nam cũng đạt độ mở ngày càng lớn. Năm 2016 độ mở thương mại xấp xỉ 171%, cao hơn so với mức trước khủng hoảng tài chính thế giới (157,4% vào năm 2008).
 
Đặc biệt, tác động tích cực của quá trình HNKTQT còn thể hiện ở việc dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta tăng mạnh kể từ năm 2007, qua đó bổ sung đáng kể nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Giai đoạn từ đầu năm 2007 đến tháng 11/2017 có hơn 18 nghìn dự án được cấp phép mới, tương đương 2,2 lần số dự án trong cả giai đoạn 1988-2006. Tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm từ năm 2007 đến nay đạt 296,4 tỷ USD, bằng 3,8 lần so với giai đoạn trước WTO.
 
Vẫn còn những tồn tại, hạn chế
 
Mặc dù đã đạt nhiều thành tựu, dấu ấn nhưng theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, Phó Trưởng BCĐ liên ngành HNQT về kinh tế, quá trình HNKTQT giai đoạn 2007 – 2017 của Việt Nam cũng cho thấy một số tồn tại.
         
Thứ nhất, mặc dù đã ban hành Chiến lược tổng thể về HNQT, tuy nhiên việc triển khai thực hiện Chiến lược trong thực tế còn một số bất cập. Các hoạt động HNKTQT và mở rộng quan hệ trong các lĩnh vực chưa được triển khai đồng bộ, nhịp nhàng trong một chiến lược tổng thể. Một số chương trình, hoạt động chậm được cụ thể hóa, hoặc cụ thể hóa mà không tính đến chiều cạnh tương ứng của HNKTQT.
 
Thứ hai, trong khi đẩy mạnh quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế thì việc điều chỉnh chính sách trong không ít trường hợp còn chậm hoặc mang tính đối phó, chưa đồng bộ.
 
Thứ ba, khả năng nhận định, đánh giá và dự báo về xu thế và diễn tiến HNKTQT chưa cao, kết quả còn rất hạn chế.
 
Các hạn chế này, theo Bộ trưởng Trần Tuấn Anh, xuất phát từ một số nguyên nhân chính.
 
Thứ nhất, nhận thức về HNKTQT nói chung và các thỏa ước hội nhập nói riêng còn chưa cụ thể, nhất quán, đặc biệt là ở địa phương.
 
Thứ hai, một số chủ trương, vấn đề HNKTQT chưa được lồng ghép chặt chẽ vào kế hoạch hành động của Bộ, ngành, địa phương, dẫn tới thiếu quan tâm và/hoặc điều phối thiếu hiệu quả.
 
Thứ ba, sự phối hợp trong quá trình triển khai công tác hội nhập giữa các Bộ, ngành, giữa các cơ quan Trung ương với các địa phương, doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ. Nguồn lực (tài chính, nhân lực) cho công tác HNKTQT còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đề ra.
 
Để hội nhập thực sự là động lực cho giai đoạn phát triển mới
         
Đánh giá về kết quả hội nhập của đất nước 30 năm qua, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, qua việc thực hiện các cam kết HNKTQT, hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, năng lực cạnh tranh quốc gia và của các doanh nghiệp được nâng lên, mở rộng thị trường, tranh thủ được vốn đầu tư lớn, tri thức, công nghệ và các nguồn lực khác, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
 
Thủ tướng khẳng định, Việt Nam kiên trì chủ trương hội nhập toàn diện với trọng tâm là HNKTQT; coi HNKTQT là động lực để cải cách kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
 
Do vậy, thời gian tới cần tập trung triển khai Chương trình hành động về HNKTQT. Trong quá trình triển khai Chương trình hành động cụ thể tại các Bộ, ngành, địa phương, cần chú ý gắn việc thực thi các cam kết HNKTQT với quá trình cải cách, hoàn thiện thể chế luật pháp, tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; xây dựng các chính sách, cơ chế phù hợp để tạo môi trường kinh doanh và đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
 
Đặc biệt, theo Thủ tướng, xác định doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt, trong đó khu vực doanh nghiệp tư nhân có vai trò quan trọng, Chính phủ luôn đồng hành và lắng nghe ý kiến và phản hồi của các doanh nghiệp về các vấn đề chính sách để cùng tháo gỡ những khó khăn đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần thúc đẩy các doanh nghiệp chủ động hơn nữa trong việc tìm hiểu các FTA để xây dựng phương án kinh doanh, sáng tạo vượt qua thách thức và tận dụng tối đa các cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế.
 
Trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, Việt Nam sẽ tập trung phát huy nội lực nỗ lực vượt qua những khó khăn, thách thức, tận dụng cơ hội của hội nhập quốc tế và Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 nhằm tranh thủ hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
 
Thanh Hà
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại số tháng 2/2018

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline : 0913535939
Liên hệ nội dung: Việt Hằng : 0989.153.746