Số tạp chí mới

Liên kết

Giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ của tỉnh Hà Nam

Đăng lúc: Thứ hai - 16/07/2018 09:04
(DNTM) Công nghiệp hỗ trợ là nền tảng phát triển cho tất cả các ngành công nghiệp khác. Ngành công nghiệp hỗ trợ được xem như một trong những nhân tố then chốt giúp phát triển nền kinh tế quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu.
Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Xác định được vai trò quan trọng của việc phát triển công nghiệp hỗ trợ, trong thời gian qua Nhà nước đã ban hành hàng loạt văn bản nhằm đẩy mạnh việc phát triển công nghiệp hỗ trợ như: Nghị định số 111/NĐ-CP ngày 03/11/2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ; Thông tư 55/2015/TT-BCT của Bộ Công Thương ngày 30/12/2015 về Quy định trình tự, thủ tục xác nhận ưu đãi và hậu kiểm ưu đãi đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển; Thông tư 21/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 5/2/2016 hướng dẫn về khai thuế GTGT và ưu đãi thuế TNDN theo quy định tại Nghị định 111/2015/NĐ-CP; Thông tư 01/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 04/02/2016 hướng dẫn chính sách cho vay phát triển công nghiệp hỗ trợ...
 
Trên địa bàn tỉnh Hà Nam, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành và triển khai thực hiện các chính sách về phát triển công nghiệp hỗ trợ: Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 08/4/2016 về đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo tạo nền tảng phát triển công nghiệp với tốc độ cao và bền vững giai đoạn 2016-2025; Kế hoạch số 990/KH-UBND ngày 12/5/2016 thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TU của Tỉnh ủy về đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo tạo nền tảng phát triển công nghiệp với tốc độ cao và bền vững giai đoạn 2016-2025; Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 12/01/2016 về phê duyệt đề án đổi mới định hướng đầu tư phát triển giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
 
Trong đó, lĩnh vực ưu tiên phát triển, thu hút đầu tư của tỉnh là các ngành công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao. Tỉnh Hà Nam đã tạo được mặt bằng sạch và cơ sở hạ tầng đồng bộ cho các doanh nghiệp đầu tư như có các khu công nghiệp và cụm công nghiệp và đặc biệt có Khu công nghiệp hỗ trợ Đồng Văn III với nhiều ưu đãi dành cho các nhà đầu tư thuộc ngành công nghiệp hỗ trợ; thực hiện nghiêm túc 10 cam kết của tỉnh đối với các nhà đầu tư.
 
Đông thời, đẩy mạnh các chương trình xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước để chủ động thu hút các doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc, doanh nghiệp lớn trong nước... đầu tư vào thị trường Hà Nam...
 
Nhờ những chính sách đó, Sở Công Thương Hà Nam cho biết, tính đến nay toàn tỉnh đã thu hút được 106 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đi vào hoạt động (chủ yếu là các doanh nghiệp FDI; có 102 doanh nghiệp trong khu công nghiệp, 04 doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp) với những sản phẩm chủ yếu là thiết bị điện, điện tử, hệ thống dây dẫn điện trong ô tô, màn hình cảm ứng.... như Công ty TNHH Seoul Semiconductor Vina, Công ty cổ phần Vải địa kỹ thuật Việt Nam, Công ty TNHH JT Sensor Vina, Công ty TNHH Arai Việt Nam, Công ty TNHH KMW Việt Nam, Công ty TNHH Ace Antenna, Công ty TNHH Anam Electronic Việt Nam...; Giá trị sản xuất công nghiệp lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ năm 2017 đạt 16.576 tỷ đồng, tăng 15,1% so với năm 2016; chiếm 21,4 % tỷ trọng giá trị toàn ngành.
 
Tuy nhiên, ngoài kết quả đạt được, ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh cũng gặp một số khó khăn, vướng mắc do các cơ chế, chính sách đối với ngành công nghiệp hỗ trợ mới ban hành, thiếu hướng dẫn và việc triển khai còn chậm; điều kiện ưu đãi đối với các Dự án thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ  ưu tiên phát triển quy định tại Nghị định và Thông tư này còn chưa cụ thể, chi tiết với các tiêu chí, điều kiện rõ ràng.
 
Những yếu tố trên đã dẫn đến khó khăn trong công tác hậu kiểm ưu đãi. Sự liên kết giữa các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ với các doanh nghiệp sản xuất chính còn hạn chế, thiếu sự phối hợp liên kết giữa các nhà sản xuất công nghiệp hỗ trợ với nhau; một số sản phẩm ghi trong Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển quy định tại Nghị định số 111/2015/NĐ-CP còn khá chung chung dẫn đến khó khăn cho các đơn vị quản lý nhà nước trong việc hướng dẫn, xác định các dự án được hưởng ưu đãi; chưa có cơ sở dữ liệu ngành công nghiệp hỗ trợ.
 
Bên cạnh đó, năng lực tổ chức, quản lý và công nghệ của các doanh nghiệp còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp sản xuất chính; chưa triển khai được nguồn vốn đầu tư cho các doanh nghiệp có nhu cầu hỗ trợ; nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
 
Chính vì vậy, để đạt được mục tiêu của Nghị quyết 04-NQ/TU ngày 08/4/2016 đề ra là giá trị sản xuất công nghiệp hỗ trợ năm 2020 đạt trên 20.000 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 25% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, đến năm 2025 giá trị sản xuất công nghiệp hỗ trợ đạt trên 51.000 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 30% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp các cấp, các ngành, địa phương và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cần thực hiện tốt các giải pháp được đề ra.
 
Đó là thực hiện tốt công tác tuyên truyền, hướng dẫn các văn bản về công nghiệp hỗ trợ; rà soát nghiên cứu các cơ chế chính sách của Chính phủ, cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách riêng của tỉnh đối với công nghiệp hỗ trợ để phát huy các tiềm năng lợi thế, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp sản xuất công nghiệp hỗ trợ.
 
Tham mưu UBND tỉnh ban hành Quy định hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển công nghiệp hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển; tổ chức tốt công tác xúc tiến đầu tư để chọn được nhà đầu tư công nghiệp hỗ trợ có chất lương, hiệu quả.
 
Phối hợp với các bộ phận, đơn vị liên quan xây dựng cơ sở dữ liệu ngành công nghiệp hỗ trợ của tỉnh nhằm giúp các doanh nghiệp có thông tin về nhau, thông tin về nguồn cung và nhu cầu sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, từ đó sẽ là cơ sở để kết nối các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ với nhau và với các doanh nghiệp sản xuất chính. Hỗ trợ cho việc thành lập và hoạt động một số trang web chuyên ngành công nghiệp hỗ trợ.       
 
Bộ Công Thương, UBND tỉnh nghiên cứu cụ thể, chi tiết các sản phẩm tại Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển quy định tại Nghị định số 111/2015/NĐ-CP như sản phẩm hóa chất phục vụ nhuộm hoàn tất vải, linh kiện sản phẩm điện tử,… để các đơn vị quản lý nhà nước thuận tiện trong việc hướng dẫn, xác định các dự án được hưởng ưu đãi.
 
Thơm Nguyễn
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Tòa soạn: P.509, Tầng 5, Toà nhà Bộ Công Thương
Số 655 Phạm Văn Đồng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Tel: 04.3715-2179/ Fax : 04.3715-2202/ Email : toasoan@dntm.vn
GPXB: GPXB: Số 214/GP-TTĐT cấp ngày 17/11/2016.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại giữ bản quyền nội dung trên website này.
Hotline : 0982002424