Đào tạo ứng viên điều dưỡng sang Nhật Bản (Ảnh minh họa: Dolab).
Đây là nhận định từ tọa đàm trực tuyến “Nhân lực ngành chăm sóc giai đoạn 2020-2025: Rộng mở cơ hội việc làm trong và ngoài nước” do Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp và Truyền hình Thông tấn (Vnews) tổ chức ngày 30-8.

Nhu cầu tuyển dụng lớn

Từ năm 2018, Nhật Bản có những đơn đặt hàng, tiếp nhận các thực tập sinh hộ lý, chăm sóc viên Việt Nam sang làm việc tại các bệnh viện, viện dưỡng lão để chăm sóc bệnh nhân, người già. Nhu cầu tuyển dụng các chăm sóc viên tại các quốc gia có dân số già như Nhật Bản, Hàn Quốc luôn tăng trong những năm qua.

Tại buổi tọa đàm, bà Nguyễn Mai Phương, Giám đốc chương trình Chăm sóc viên, Công ty Cổ phần Tập đoàn Cung ứng nhân lực JHL Việt Nam (JHL Việt Nam) cho biết, trong khoảng ba năm trở lại đây, nhu cầu chăm sóc viên làm việc trong các bệnh viện, viện dưỡng lão tại nước ngoài, tiêu biểu như Nhật Bản gia tăng nhanh chóng. Đây là ngành có số lượng thực tập sinh được tiếp nhận hằng năm rất lớn, với nhu cầu hàng chục nghìn nhân lực mỗi năm.

Còn trong nước, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số thuộc hàng cao nhất trên thế giới. Dự báo đến năm 2038, nhóm cao tuổi ở Việt Nam sẽ chiếm đến 20% tổng dân số. Và đến năm 2050, Việt Nam sẽ là quốc gia có dân số già tương đương Nhật Bản, Hàn Quốc.

Trong quá trình già hóa dân số, nhu cầu được chăm sóc của người cao tuổi ngày càng cao và là một thách thức rất lớn với hệ thống an sinh xã hội nói chung và hệ thống chăm sóc người cao tuổi nói riêng.

Chia sẻ tại tọa đàm, ông Đào Trọng Độ, Phó Vụ trưởng Vụ Đào tạo thường xuyên, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) cho biết, tình trạng thiếu nhân lực được đào tạo, thiếu nhân viên chăm sóc người cao tuổi đang tồn tại và có khả năng sẽ cấp thiết hơn trong tương lai. Nhu cầu này không chỉ với nước ngoài mà còn ngay cả trong nước.

Thực tế, tại Việt Nam, việc sử dụng nhân viên chăm sóc sức khỏe chỉ có ở một số bệnh viện, viện dưỡng lão còn việc chăm sóc chủ yếu dựa vào người trong gia đình, người quen hoặc người thuê về chăm sóc, đặc biệt tại các hộ gia đình. Nhiều người không có kiến thức, kỹ năng, đào tạo chuyên môn để chăm sóc bệnh nhân, người già. Do đó, nhân lực chăm sóc viên được chuẩn hóa trong 5 năm, 10 năm hoặc về lâu dài sẽ ngày càng là nhu cầu cấp thiết.

Còn theo nhận định của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam, Việt Nam cần phải tăng cường đầu tư cho đào tạo điều dưỡng, chăm sóc viên, bởi vì nhiều khả năng đến năm 2030 nguồn nhân lực điều dưỡng trong nước sẽ thiếu khoảng hơn 50 nghìn người.

Vì vậy, theo ông Đào Trọng Độ, nếu chúng ta không có sự chuẩn bị về chương trình đào tạo chuẩn hóa và đào tạo nhân lực ngay từ bây giờ thì sẽ không kịp.

“Đây là một nghề mới, trong xã hội được công nhận thì tạo ra cơ hội rất lớn, tạo ra công ăn việc làm lớn cho người lao động. Vấn đề đặt ra ở đây là, chúng ta rất cần có những mô hình có thể cung ứng nguồn nhân lực này một cách bài bản từ khâu tuyển chọn, đào tạo, kết nối giải quyết việc làm”, ông Độ nhấn mạnh.

Mô hình cung ứng việc làm bài bản

Nhu cầu xã hội ngày càng tăng cao với nghề chăm sóc sức khỏe tạo ra cơ hội lớn cho cả doanh nghiệp, người lao động, cơ sở đào tạo.

Trong thời gian qua, những mô hình kết hợp ba nhà để tổ chức triển khai các hoạt động đào tạo chuyên nghiệp chăm sóc viên cung cấp cho thị trường lao động trong và ngoài nước đã bắt đầu được triển khai, với sự tham gia cả doanh nghiệp và cả các trường cao đẳng y tế trong cả nước.

Từ tháng 11-2019, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp đã hợp tác với công ty JHL Việt Nam để cùng hệ thống các trường trung cấp, cao đẳng khối ngành sức khỏe trên cả nước xây dựng mô hình tuyển dụng, đào tạo và cung ứng chăm sóc viên cho thị trường trong và ngoài nước, cụ thể là Nhật Bản.

Là một cơ sở tham gia chương trình đào tạo, ông Nguyễn Xuân Thủy, Hiệu trưởng trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ, cho biết, việc kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng là sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, thực tập, thực tế. Chương trình có đào tạo những kiến thức y, sinh học cơ bản với các kỹ năng chăm sóc người bệnh, tâm lý của người bệnh và trách nhiệm của chăm sóc viên.

Chương trình này được các nhà giáo có kinh nghiệm, chuyên gia y tế, kết hợp với doanh nghiệp xây dựng nên một chương trình tương đối hoàn chỉnh để triển khai đào tạo hiện nay.

Theo bà Nguyễn Mai Phương (Công ty JHL Việt Nam), đến hết năm 2020, số lượng dự kiến mà các trường đã đăng ký đào tạo đạt khoảng 1.000 chỉ tiêu. Khi kết thúc khóa đào tạo, người lao động sẽ được cấp chứng chỉ đào tạo nghề chăm sóc viên và được JHL Việt Nam bố trí việc làm trong nước tại hệ thống các bệnh viện đối tác như: Bệnh viện ĐH Y Hà Nội, Bệnh viện Bạch Mai, Viện Lão khoa trung ương,…

Ứng viên có nguyện vọng sẽ được phái cử sang Nhật Bản tiếp tục học tập nâng cao trình độ có thể làm việc trong các bệnh viện, viện dưỡng lão và các cơ sở chăm sóc sức khỏe. Nhóm ứng viên này sẽ tham gia các chương trình đào tạo do các nghiệp đoàn về y tế lớn tại Nhật Bản để đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của phía đối tác.

Chị Hoàng Thanh Lan, người tham gia Chương trình chăm sóc viên đi Nhật Bản của JHL Việt Nam cho biết, ngoài việc học ngoại ngữ và kiến thức chuyên ngành để làm việc, ứng viên còn được học thêm những tiết học tìm hiểu về văn hóa, đời sống, pháp luật, giao thông… tại Nhật.

Về lâu dài, ông Đào Trọng Độ cho biết, về phía cơ quan nhà nước, cụ thể là Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, sẽ tham mưu cho lãnh đạo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, cơ quan chuyên ngành để xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý, từng bước hướng dẫn về hình thức dạy nghề để các cơ sở giáo dục và doanh nghiệp cùng chuẩn hóa mô hình này.

Bên cạnh đó, nghề chăm sóc sức khỏe cũng cần được thừa nhận để người lao động có được vị trí trong xã hội, bảo đảm quyền lợi khi họ tham gia vào lĩnh vực này.