Công nhân làm việc tại nhà máy ở Vernon, Los Angeles, California, Mỹ ngày 16/4/2020. Ảnh: THX/TTXVN
Sau nhiều nỗ lực nhằm khống chế dịch lây lan, một số quốc gia và khu vực đã mở cửa trở lại một cách thận trọng nhằm nhanh chóng phục hồi kinh tế và đưa cuộc sống trở lại bình thường. Tuy nhiên, dịch bệnh vẫn đang hoành hành nghiêm trọng tại châu Mỹ, làn sóng lây nhiễm thứ hai đang nhen nhóm bùng phát tại nhiều nơi, khiến một số nước đã phải tái áp đặt các biện pháp hạn chế và phong tỏa. Những diễn biến phức tạp cùng tính chất khó lường của dịch bệnh khiến Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cảnh báo đại dịch COVID-19 đã gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế chưa từng có, đi kèm với những dự báo ảm đạm hơn về triển vọng kinh tế thế giới.

Trong báo cáo Triển vọng Kinh tế thế giới mới nhất, IMF cho biết các lệnh phong tỏa và việc đóng cửa biên giới thời gian qua đã khiến kinh doanh trên toàn cầu bị đình trệ, hàng trăm triệu việc làm biến mất. Dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ sụt giảm 4,9% trong năm nay, nghiêm trọng hơn nhiều so với mức 3% được đưa ra vào tháng 4 vừa qua và là mức sụt giảm lớn nhất kể từ Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Ước tính 12.000 tỷ USD sẽ "bốc hơi" trong vòng hai năm. Những cập nhật này hoàn hoàn tương đồng với những dự báo kinh tế gần đây. Trước đó, Ngân hàng Thế giới (WB) còn bi quan hơn với dự báo kinh tế toàn cầu sẽ suy giảm ở mức 5,2% trong năm nay.

Theo IMF, Mỹ - quốc gia có số ca nhiễm và tử vong do COVID-19 cao nhất thế giới hiện nay, sẽ ghi nhận tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giảm tới 8%, thay vì mức dự báo 5,9% được đưa ra trước đó. Đây sẽ là mức giảm sâu nhất kể từ khi sau năm 1945. Điều này không hề gây ngạc nhiên vì chỉ trong 10 tuần dịch COVID-19 tàn phá, số lượng người Mỹ mất việc đã vượt con số 40 triệu. Tất cả các ngành công nghiệp của Mỹ đều chịu tác động, khiến GDP quý I giảm tới 4,8%, cao hơn bất cứ dự đoán nào được đưa ra trước đó và báo hiệu những khó khăn chồng chất trong những quý tiếp theo.

Phó Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Richard Clarida thừa nhận rằng nước Mỹ đang trải qua giai đoạn khủng hoảng tồi tệ nhất với tỷ lệ thất nghiệp cao nhất từ những năm 40 của thế kỷ trước. Cho tới thời điểm này, vẫn chưa có nhiều dấu hiệu cho thấy Mỹ đã đáp ứng được những điều kiện mà các chuyên gia y tế đưa ra để có thể sẵn sàng bước vào giai đoạn tiếp sau cuộc chiến chống COVID-19.

Giới chuyên gia lo ngại số ca tử vong tại Mỹ có thể lên tới 150.000 người, khi dịch bệnh vẫn đang lây lan tại nhiều bang. IMF dự báo nền kinh tế số một thế giới sẽ phục hồi ở mức 4,5% trong năm tới, song những rủi ro hiện nay cùng tác động sâu rộng của COVID-19 sẽ khiến kinh tế Mỹ phải mất thời gian dài mới có thể thực sự phục hồi trở lại như trước khi đại dịch bùng phát.

Tại Khu vực Đồng tiền chung châu Âu (Eurozone), các nước đang khẩn trương mở cửa lại biên giới nội khối, thúc đẩy ngành du lịch tăng trưởng vào mùa Hè này để bù đắp thiệt hại kinh tế do dịch bệnh. Tuy nhiên, quá trình khởi động nền kinh tế đang diễn ra với tốc độ chậm, kéo theo hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản vẫn bị ảnh hưởng trong những tháng tới. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến IMF vẫn hạ mức dự báo tăng trưởng GDP của khối, từ âm 8% xuống âm 10,7% trong năm 2020.

Dù chính phủ các nước châu Âu đã chi hàng trăm tỷ euro để vực dậy nền kinh tế, song theo cơ quan bảo hiểm-tín dụng Coface, số doanh nghiệp phá sản sẽ tăng mạnh từ nay đến hết năm 2021, với tỷ lệ 21% tại Pháp, 22% ở Tây Ban Nha, 37% đối với Anh và Italy, 36% tại Hà Lan. Để giải quyết khủng hoảng, Liên minh châu Âu (EU) đã đề xuất thành lập quỹ phục hồi trị giá 750 tỷ euro (843 tỷ USD), song vấn đề này đang vấp phải sự chia rẽ của nhiều nước, đặc biệt trong việc phân bổ khoản ngân sách.

Tại Mỹ Latinh, nơi hiện đang là tâm dịch của thế giới, tăng trưởng kinh tế có nguy cơ giảm 9,4% trong năm nay, trước khi phục hồi 3,7% năm tiếp theo. Trong khi đó, việc giá dầu lao dốc khiến các nước sản xuất dầu mỏ rơi vào suy thoái nghiêm trọng, Nga và Saudi Arabia được dự báo tăng trưởng âm 6,6% và 6,8% trong năm nay. Điểm sáng duy nhất trong danh sách dài các nền kinh tế được IMF theo dõi là Trung Quốc với dự báo sẽ đóng góp 1% cho tăng trưởng toàn cầu trong năm nay và thậm chí là 8% trong năm tới. Do khống chế thành công dịch bệnh sớm hơn so với phần còn lại của thế giới, Trung Quốc đã mở cửa lại kinh tế từ tháng Tư, với số ca nhiễm mới duy trì ở mức thấp.

Những con số trên đã thể hiện bức tranh ảm đạm của nền kinh tế toàn cầu, bất kể là những nước đang ở tâm dịch hay những quốc gia đang dần nới lỏng phong tỏa sau khi ngăn chặn virus SARS-CoV-2 lây lan thành công. Hoạt động giao thương và xã hội đình trệ do các lệnh phong tỏa đã đẩy kinh tế rơi vào suy thoái nghiêm trọng nhất kể từ cuộc đại suy thoái thập niên 30 của thế kỷ trước. Dù nhiều nền kinh tế đã bắt đầu mở lại, song việc áp dụng phong tỏa và giãn cách xã hội đã tác động mạnh đến đầu tư và tiêu dùng, dẫn đến cú sốc về nhu cầu và gây gián đoạn nguồn cung.

Rủi ro lớn hơn, theo nhà kinh tế trưởng IMF Gita Gopinath, hơn 75% các quốc gia mở cửa trở lại đúng thời điểm dịch bệnh đang lan rộng tại các thị trường mới nổi và nền kinh tế phát triển. Triển vọng phục hồi sau dịch bệnh rất bất trắc vì không thể dự báo hướng phát triển của virus.

Ước tính thu nhập trên đầu người của hơn 90% các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi đều sẽ giảm trong năm nay, qua đó đảo ngược những tiến bộ quan trọng đạt được trong việc giảm đói nghèo trên toàn cầu kể từ năm 1990. Với hàng trăm triệu việc làm biến mất trong quý II, chính phủ các nước đã thành lập loạt quỹ hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp. Tuy nhiên, IMF cảnh báo các nước không nên ngừng hỗ trợ quá sớm hoặc không đúng mục tiêu, dẫn tới gia tăng thiệt hại kinh tế.

Các chuyên gia lo ngại dịch bệnh sẽ "để lại những vết sẹo lớn" trong thương mại, kinh doanh và việc làm, với kim ngạch thương mại toàn cầu sẽ suy giảm dưới mức 12% trong năm nay. Mức độ suy thoái tại các nền kinh tế lớn sẽ hơn gấp đôi mức từng chứng kiến trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2009. Các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển sẽ cần 25.000 tỷ USD để vượt qua khủng hoảng, song có thể chỉ một phần nhu cầu này được đáp ứng. Nếu như không có giải pháp hiệu quả về dịch tễ, khả năng phục hồi ẩn chứa nhiều rủi ro, tác động đến các lĩnh vực và các quốc gia là không đồng đều.

IMF dự báo GDP thế giới sẽ tăng trở lại 5,4% trong năm 2021, nhưng chỉ khi mọi chuyện diễn ra theo kịch bản tốt đẹp. Nếu dịch bệnh bùng phát trở lại, buộc các quốc gia đóng cửa, khiến các thị trường tài chính chao đảo lần nữa, thì những nước dễ bị tổn thương có nguy cơ rơi vào khủng hoảng nợ, làm suy yếu thêm các nỗ lực phục hồi kinh tế.

Bên cạnh tác động của dịch bệnh, căng thẳng leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc trên nhiều mặt trận, xung đột trong nội bộ Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và các nước đối tác (OPEC+), cũng như tình trạng bạo loạn xã hội lan rộng đang đặt ra nhiều thách thức khác đối với nền kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế suy giảm nghiêm trọng, nhiều nước đã áp dụng chính sách bảo hộ thương mại để bảo vệ việc làm và các ngành công nghiệp nội địa. Tuy nhiên, với thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, các nước đều có sự phụ thuộc lẫn nhau về nguồn cung cùng thị trường xuất khẩu, không một nền kinh tế nào có thể tự mình phục hồi sau đại dịch.

Tình hình kinh tế thế giới còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, nguy cơ làn sóng lây nhiễm COVID-19 thứ hai, hay việc áp dụng rộng rãi các biện pháp hạn chế thương mại có thể khiến tăng trưởng thương mại không được như dự báo. Những vấn đề này đòi hỏi cách tiếp cận phối hợp toàn cầu để có thể vừa giải quyết cuộc khủng hoảng y tế vừa hỗ trợ phục hồi kinh tế thông qua ổn định thị trường, khôi phục lòng tin, khởi động lại thương mại và chuỗi cung ứng. So với các lục địa khác, châu Á vượt qua khủng hoảng dịch bệnh sớm hơn, đang trên đà phục hồi. Thông qua hợp tác đa phương, cùng với ảnh hưởng tiềm năng của khu vực này, châu Á được kỳ vọng có thể đóng vai trò trung tâm, đưa thế giới ra khỏi đại dịch và trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế toàn cầu phục hồi.