Ảnh minh họa
Về xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 5,5 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2019. Một số nhóm hàng xuất khẩu ghi nhận tăng trưởng tốt bao gồm: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (đạt 1,4 tỷ USD, tăng 36%); điện thoại các loại và linh kiện (đạt 1,2 tỷ USD, tăng 278,3%); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác (đạt 220,8 triệu USD, tăng 8,1%); sắt thép các loại (đạt 87,4 triệu USD, tăng 1.720,4%); gạo (đạt 37,1 triệu USD, tăng 723,6%).
 
Các mặt hàng có kim ngạch giảm chủ yếu là nhóm hàng nông sản (cao su đạt 157 triệu USD, giảm 19,9%; hạt điều đạt 21,7 triệu USD, giảm 61,5%; hàng rau quả đạt 300,4 triệu USD, giảm 29,8%); nhóm dệt may da giày (Giày dép các loại đạt 302,6 triệu USD, giảm 2,2%; xơ, sợi dệt các loại đạt 270,6 triệu USD, giảm 22%; hàng dệt, may đạt 194 triệu USD, giảm 5%); máy ảnh, máy quay phim và linh kiện giảm 65,3% và đạt 113,3 triệu USD.
 
Về nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc đạt 9,3 tỷ USD, giảm 6,2% so với cùng kỳ năm 2019, chiếm tỷ trọng 24,9% trong tổng nhập khẩu của Việt Nam từ thế giới. Trong đó, các nhóm hàng nhập khẩu ghi nhận kim ngạch tăng bao gồm: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (1,6 tỷ USD, tăng 3,9%); sản phẩm từ chất dẻo (371 triệu USD, tăng 18,4%); sản phẩm hóa chất (220,4 triệu USD, tăng 14,6%); xăng dầu các loại (167,4 triệu USD, tăng 24,9%); linh kiện, phụ tùng ô tô (119,4 triệu USD, tăng 10,5%); gỗ và sản phẩm gỗ (89,5 triệu USD, tăng 41,8%).
 
Một số nhóm hàng nhập khẩu ghi nhận kim ngạch giảm bao gồm: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác (đạt 2 tỷ USD, giảm 2%); điện thoại các loại và linh kiện (đạt 889 triệu USD, giảm 4,5%); vải các loại (813,2 triệu USD, giảm 18,7%); nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày (284 triệu USD, giảm 7,4%); xơ, sợi dệt các loại (143,7 triệu USD, giảm 20,8%); sắt thép các loại (266,6 triệu USD, giảm 49,6%)./.