Ảnh minh họa: V.H
Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch giảm so với cùng kỳ: Hàng dệt may đạt 2,6 tỷ USD, giảm 21%; điện thoại và linh kiện đạt 2,6 tỷ USD, giảm 22,4%; giày dép đạt 1,6 tỷ USD, giảm 9,7%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 1,5 tỷ USD, giảm 6,5%... Một số mặt hàng xuất khẩu có giá trị tăng: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 2,6 tỷ USD, tăng 5,6%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1 tỷ USD, tăng 1,4%.
 
Xuất khẩu các nhóm hàng
 
Kim ngạch xuất khẩu nhóm nông, lâm, thuỷ sản ước đạt 1,85 tỷ USD, giảm 21,9% so với tháng 12/2019 nhưng giảm 18,8% so với cùng kỳ năm 2019, chiếm 9,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong nhóm này, ngoại trừ sắn và các sản phẩm từ sắn, các mặt hàng khác đều có kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn ước đạt 290 nghìn tấn, tăng 6,7%, trị giá ước đạt 100 triệu USD, tăng 1,1%.
 
Các mặt hàng có kim ngạch giảm mạnh so với cùng kỳ là cà phê ước đạt 140 ngàn tấn, kim ngạch 245 triệu USD, giảm 30,6% về lượng và 30,3% về trị giá; thủy sản ước đạt 550 triệu USD, giảm 25,2%; gạo ước đạt 350 ngàn tấn, kim ngạch 170 triệu USD, giảm 18,7% về lượng và giảm 11,6% về trị giá, cao su ước đạt 120 triệu USD, trị giá đạt 174 triệu USD, giảm 23,8% về lượng và giảm 13,1% về trị giá.
 
Kim ngạch xuất khẩu nhóm nhiên liệu và khoáng sản ước đạt gần 0,294 tỷ USD, giảm 36,3% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu than, quặng và khoáng sản tăng mạnh nhờ lượng xuất khẩu tăng mạnh.
 
Xuất khẩu than ước đạt 30 nghìn tấn, trị giá ước đạt 4 triệu USD, tăng 786,8% về lượng và 440,5% về trị giá; xuất khẩu quặng và khoáng sản ước đạt 180 nghìn tấn, trị giá đạt 15 triệu USD, tăng 35,8% về lượng và 46,2% về trị giá. Nguyên nhân chủ yếu là do Bộ Công Thương đã xem xét báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch xuất khẩu than năm 2020 sớm hơn các năm trước, do đó các doanh nghiệp trong ngành đã có cơ sở chủ động, tổ chức thực hiện xúc tiến xuất khẩu than ngay từ đầu năm với các đối tác truyền thống, đặc biệt là Nhật Bản và Hàn Quốc.
 
Dầu thô và xăng dầu là 2 mặt hàng trong nhóm có sản lượng xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ. Dầu thô ước đạt 410 nghìn tấn, trị giá ước đạt 187 triệu USD, giảm 16,4% về lượng và 19,7% về trị giá. Xăng dầu ước đạt 135 nghìn tấn, trị giá ước đạt 88 triệu USD, giảm 62% về lượng và 59,4% về trị giá.
 
Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 15,88 tỷ USD, giảm 15,1% so với tháng 12/2019 và giảm 13,8% so với cùng kỳ, chiếm 83,6% tổng kim ngạch xuất khẩu.
 
Các mặt hàng duy trì được tăng trưởng xuất khẩu dương so với cùng kỳ là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện ước đạt 2,6 tỷ USD, tăng 5,6% so với cùng kỳ; dây điện và dây cáp điện ước đạt 185 triệu USD, tăng 30,3%; gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 1 tỷ USD, tăng 1,4%.
 
Thị trường xuất khẩu
 
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong tháng 1/2020 với kim ngạch đạt 4,8 tỷ USD, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước; Trung Quốc đạt 3,7 tỷ USD, tăng 32,8%; thị trường EU đạt 2,6 tỷ USD, giảm 30,8%; ASEAN đạt 1,6 tỷ USD, giảm 34,8%; Nhật Bản đạt 1,6 tỷ USD, giảm 15,8%; Hàn Quốc đạt 1,3 tỷ USD, giảm 29,3%.
 
Nhập khẩu hàng hóa tháng 01/2020
 
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 1/2020 ước tính đạt 19,1 tỷ USD, giảm 14,4% so với tháng 12/2019, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 8,7 tỷ USD, giảm 17,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10,4 tỷ USD, giảm 11,3%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 1/2020 ước tính giảm 11,3%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 5,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 15,7%.
 
Một số mặt hàng có giá trị kim ngạch nhập khẩu giảm trong tháng Một: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 3,7 tỷ USD, giảm 8,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 3,2 tỷ USD, giảm 6,8%; điện thoại và linh kiện đạt 1,1 tỷ USD, giảm 9,5%; vải đạt 950 triệu USD, giảm 18,1%; chất dẻo đạt 645 triệu USD, giảm 19,3%; sắt thép đạt 600 triệu USD, giảm 26%.
 
Nhóm hàng cần nhập khẩu ước đạt 16,8 tỷ USD, giảm 11,3% so với cùng kỳ năm 2019. Mặt hàng nhập khẩu tập trung chủ yếu ở nhóm dầu thô và khí đốt hóa lỏng (LPG)…  Nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu ước đạt 1,2 tỷ USD, giảm 17,5% so với cùng kỳ. Trong đó nhập khẩu ô tô chở người dưới 9 chỗ ngồi trong tháng 01/2020 ước khoảng 3.200 chiếc, kim ngạch 60 triệu USD, giảm 57,4% về lượng và 62,5% về kim ngạch so với cùng kỳ.
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 6,2 tỷ USD, giảm 7,1% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc đạt 3,2 tỷ USD, giảm 22,8%; ASEAN đạt 2,4 tỷ USD, giảm 10,8%; Nhật Bản đạt 1,5 tỷ USD, tăng 2,7%; EU đạt 1,2 tỷ USD, giảm 6,5%; Hoa Kỳ đạt 1,2 tỷ USD, tăng 5,4%.
 
Đánh giá chung về tình hình xuất nhập khẩu tháng 01/2020
 
Trong tháng 1/2020, có 6 mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD. Trong các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực, chỉ nhóm hàng Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; Gỗ và sản phẩm gỗ đạt được sự tăng trưởng về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2019 với kết quả lần lượt tăng 5,6% và 1,4%.
 
Kim ngạch xuất nhập khẩu trong tháng 1 giảm so với tháng 12 năm 2019 và giảm so với cùng kỳ năm 2019 do có kỳ nghỉ Tết dương lịch và Tết nguyên đán đều rơi vào tháng này. Số ngày làm việc thực tế của tháng 1 chỉ là 17 ngày, thấp hơn so với 22 ngày làm việc của tháng 12 năm 2019 và tháng 01 năm 2019.
 
Giá xuất khẩu và giá nhập khẩu trong tháng 1 tuy không biến động mạnh so với tháng trước, nhưng hầu hết đều giảm so với cùng kỳ năm trước, trừ một số mặt hàng như dầu thô, xăng dầu do giá dầu thế giới tăng khi xảy ra những bất ổn ở khu vực Trung Đông cũng như việc xung đột Mỹ-Trung bước đầu hạ nhiệt.
 
Mức giảm nhập khẩu tháng 01 thấp hơn mức giảm của xuất khẩu và cán cân thương mại tháng 01 quay trở lại nhập siêu, tuy nhiên mức nhập siêu không lớn. Diễn biến này phù hợp với xu hướng các doanh nghiệp đã hoàn tất các đơn hàng xuất khẩu trước Tết và sau Tết cần một thời gian để các doanh nghiệp quay trở lại đạt năng suất cao và ổn định lực lược lao động sau tết.
 
Trong những ngày qua, bệnh dịch viêm phổi do virus Corona gây ra đang có những diễn biến phức tạp tại Trung Quốc, số người mắc bệnh và tử vong do bệnh dịch này tăng lên nhanh chóng. Để phòng chống dịch lan rộng, phía Trung Quốc đã áp dụng một số biện pháp hạn chế giao thương, trong đó, Bằng Tường sẽ lùi thời gian mở các cửa khẩu với Việt Nam đến ngày 9/2 (trừ cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị Quan mở cửa từ ngày 3/2).
 
Hiện tại, nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam chỉ có thể xuất khẩu qua cửa khẩu phụ. Do vậy, việc lùi thời gian mở cửa khẩu sẽ làm ảnh hưởng đến việc xuất khẩu các loại nông sản, đặc biệt là các mặt hàng đang vào vụ thu hoạch như dưa hấu, thanh long.
 
Trung Quốc hiện nay là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Việt Nam lại có đường biên giới đất liền kéo dài với nhiều cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu quốc gia, cửa khẩu phụ là nơi giao nhận, thông thương một số lượng lớn hàng hóa xuất nhập khẩu giữa hai nước. Trước tình hình đó, Bộ Công Thương đã và đang theo dõi sát sao tình hình bệnh dịch viêm phổi do virus Corona gây ra để đánh giá khả năng tác động tới hoạt động xuất nhập khẩu. Trước mắt, chưa nhận thấy khả năng bệnh dịch này có tác động lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam với Trung Quốc. Tuy nhiên, do tình hình lưu thông giữa các địa phương của Trung Quốc cũng gặp khó khăn vì các biện pháp chống dịch nên một số doanh nghiệp Trung Quốc có thể có động thái giãn tiến độ thực hiện các đơn hàng tiêu thụ sản phẩm nông sản (thanh long) chững lại do diễn biến phức tạp của bệnh dịch.
 
Mặt khác, do công tác chống dịch đang được thực hiện nghiêm ngặt nên việc vận chuyển giao nhận hàng hóa giữa các tỉnh, thành của Trung Quốc cũng hết sức khó khăn. Nếu dịch kéo dài, việc thông thương, đi lại tại các cửa khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc bị hạn chế thì dự báo lưu lượng hàng hóa thông qua các cửa khẩu sẽ bị ảnh hưởng.
 
Do vậy, Bộ Công Thương đề nghị các doanh nghiệp theo dõi sát diễn biến hoạt động xuất khẩu nông, thủy sản nói chung và trái cây nói riêng qua các tỉnh biên giới phía Bắc như Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh, Cao Bằng... nhằm chủ động kế hoạch sản xuất, đóng gói, giao nhận, xuất khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu biên giới, tránh để phát sinh ùn ứ và các tác động bất lợi khác.
 
Ngoài ra, các doanh nghiệp cần thực hiện nghiêm túc hoạt động xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc theo thông lệ quốc tế, nâng cao chất lượng, triển khai tốt các quy định về truy xuất nguồn gốc, kê khai vùng trồng, cơ sở đóng gói cũng như các yêu cầu liên quan nhằm đáp ứng quy định, tiêu chuẩn đã thỏa thuận với nước nhập khẩu, tránh phát sinh rủi ro và giảm thiểu thiệt hại trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
 
Các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh nông sản, cần lường trước tình huống doanh nghiệp Trung Quốc không thể nhận hàng để có giải pháp thay đổi phương thức giao hàng, chuyển hướng xuất khẩu hoặc tiêu thụ trong nước hoặc đưa vào chế biến, trữ lạnh cho phù hợp.
 
Bộ Công Thương cũng phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị các doanh nghiệp chế biến tăng cường thu mua trái cây tươi tại các tỉnh để chế biến thành các sản phẩm như nước ép, sấy khô... vừa nâng cao giá trị mặt hàng, vừa giúp nông sản có thể lưu giữ được lâu hơn. Các doanh nghiệp logistics sở hữu kho lạnh cũng cần vào cuộc, hỗ trợ các doanh nghiệp nông sản, dành diện tích bảo quản lạnh với giá ưu đãi để giúp các doanh nghiệp nông sản bảo quản nông sản, thủy sản trong thời gian tìm kiếm hợp đồng mới.
 
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần bám sát tình hình, trao đổi thường xuyên với đối tác để nắm được những thay đổi phát sinh trong trường hợp bất khả kháng do dịch bệnh gây ra.
 
Các địa phương có đường biên giới với Trung Quốc cũng cần theo dõi chặt chẽ hoạt động giao thương của cư dân biên giới để đảm bảo có biện pháp quản lý đồng bộ với hoạt động thương mại thông qua các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu quốc gia.

Bộ Công thương sẽ tiếp tục theo dõi và có thông báo, khuyến cáo đến các địa phương, doanh nghiệp khi có những diễn biến mới của bệnh dịch có khả năng ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu.
 
BT.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại