Ông Trần Thanh Hải, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) phát biểu khai mạc hội thảo
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhấn mạnh trong xu thế hội nhập toàn cầu, xuất xứ hàng hóa gắn liền với thương hiệu quốc gia, nó thể hiện chất lượng tiêu chuẩn sản phẩm tăng tính cạnh tranh. Hiện nay, thực hiện các quy định về xuất xứ hàng hóa doanh nghiệp được hưởng những ưu đãi theo các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam tham gia ký kết. Xuất xứ hàng hóa còn được sử dụng như là biện pháp lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại khi tham gia các thị trường nước ngoài.
 
Xuất xứ hàng hóa - yếu tố quan trọng trong xuất khẩu
 
Chia sẻ về các quy định về xuất xứ hàng hóa đối với hàng dệt may, ông Lê Thanh Hải cho biết: Dệt may được đánh giá là ngành được hưởng nhiều lợi ích khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Đặc biệt các FTA thế hệ mới có phạm vi cam kết rộng, liên quan đến cả lĩnh vực môi trường, lao động và mức giảm thuế sâu hơn tới 0% giúp dệt may Việt Nam tiếp cận với các thị trường xuất khẩu có quy mô lớn như: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… Điều này cũng đã tạo sức hấp dẫn, thu hút đáng kể doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Việt Nam.
 

Ông Trần Thanh Hải chia sẻ các quy định mới nhất về xuất xứ hàng hóa và một số lưu ý đối với ngành dệt may trong bối cảnh mới
 
Đối với quy tắc xuất xứ là nội dung có nhiều quy định phức tạp nhằm tạo ra những quyền lợi khác biệt và có các ưu đãi về thuế, thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói chung và đối với ngành dệt may nước ta nói riêng trong bối cảnh mới.
 
Trong hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp không tận dụng được các FTA là sự lãng phí vô cùng lớn. Hiện nay các doanh nghiệp FDI đang tận dụng tốt hơn các doanh nghiệp trong nước vì thế các doanh nghiệp Việt Nam cần tổ chức quy trình sản xuất, tìm kiếm nguồn nguyên liệu, dịch chuyển địa điểm đầu tư để tận dụng FTA. Vận dụng trước hết nguyên tắc “chuyển đổi mã số HS” sau đó mới là “hàm lượng giá trị khu vực”. Riêng với các nước ASEAN, các doanh nghiệp không chỉ vận dụng C/O form D mà có thể sử dụng bất kỳ form ASEAN+ nào.
 
Nguyên tắc xác định xuất xứ hàng hóa của Việt Nam quy định rõ phải có công đoạn sản xuất cuối cùng diễn ra tại Việt Nam; đáp ứng tiêu chí chuyển đổi cơ bản (chuyển đổi mã số hàng hóa và có hàm lượng giá trị gia tăng) và phải vượt qua giai đoạn gia công đơn giản. Ngoài ra cần xem xét đến các yếu tố khác như gia công, chế biến đơn giản, gián tiếp sử dụng trong quá trình sản xuất; bao bì phụ kiện, phụ tùng và tỷ lệ linh hoạt về nguyên liệu.
 
Trong đó, hàng hóa được coi là không có xuất xứ Việt Nam nếu chỉ trải qua một hoặc kết hợp nhiều công đoạn gia công, chế biến đơn giản. Về bao bì, phụ kiện: đối với tiêu chí “chuyển đổi mã số hàng hóa” vật liệu đóng gói, bao gói chứa đựng hàng hóa dùng để bán lẻ, khi được phân loại cùng hàng hóa đó thì được loại trừ khỏi các nguyên liệu không có xuất xứ được sử dụng vào việc sản xuất hàng hóa. Trường hợp áp dụng theo tiêu chí “hàm lượng giá trị gia tăng” thì trị giá của vật liệu đóng gói, bao bì được coi là một phần cấu thành của hàng hóa và được tính đến khi xác định xuất xứ hàng hóa. Vật liệu bao bì, đóng gói để chuyên chở hàng hóa sẽ không được tính khi xác định xuất xứ hàng hóa. Các tài liệu hướng dẫn sử dụng hàng hóa, phụ kiện đi kèm hàng hóa với số lượng, chủng loại phù hợp được coi là có cùng xuất xứ với hàng hóa đó.
 
Đối với nhiên liệu, năng lượng, dụng cụ, khuôn rập, khuôn đúc, phụ tùng bảo dưỡng… được sử dụng trong quá trình sản xuất, kiểm tra hoặc thử nghiệm hàng hóa nhưng không cấu thành hàng hóa đó hoặc các yếu tố được sử dụng trong việc bảo dưỡng nhà xưởng hoặc vận hành thiết bị có liên quan đến sản xuất hàng hóa không cần xét đến khi xác định hàng hóa của Việt Nam.
 
Các yếu tố được coi là hàng hóa của Việt Nam được xác định rõ về tỷ lệ linh hoạt nguyên liệu. Trị giá của tất cả các nguyên liệu không có xuất xứ được sử dụng để sản xuất hàng hóa không đáp ứng yêu cầu về chuyển đổi mã số hàng hóa không được vượt quá 15% giá xuất xưởng (EXW) của hàng hóa. Về trọng lượng cũng không được quá 15%.
 
Bên cạnh đó, ngôn ngữ và nội dung thể hiện được quy định bằng tiếng Việt, có thể bổ sung bằng ngôn ngữ khác tương ứng với nội dung tiếng Việt. Hàng hóa tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, quá cảnh Việt Nam không được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam. Các doanh nghiệp có quyền lựa chọn thể hiện hoặc không thể hiện nội dung hàng hóa của Việt Nam nhưng khi thể hiện thì doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật và có trách nhiệm minh chứng sự phù hợp của nội dung do mình cung cấp nhằm tránh gian lận xuất xứ hàng hóa.
 
Nói về vai trò ý nghĩa của việc thực hiện xuất xứ hàng hóa, ông Hải nhấn mạnh với những quy định chặt chẽ, cụ thể xuất xứ hàng hoá trở thành biện pháp phòng tránh gian lận thương mại hữu hiệu, đồng thời phản ánh chất lượng hàng hoá, gia tăng sức cạnh tranh cho hàng dệt may Việt Nam.
 

Hội thảo thu hút đông đảo doanh nghiệp và khách tham quan Triển lãm đến tham dự
 
Xuất xứ hàng hóa – sự cạnh tranh thương hiệu của quốc gia
 
Ở phần tiếp theo, hội thảo cũng đề cập đến những nội dung về cạnh tranh liên quan đến xuất xứ hàng hóa là hàng dệt may Việt Nam. Bà Hoàng Thu Trang, Phó giám đốc Trung tâm Thông tin, Tư vấn và Đào tạo – Cục Quản lý cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Bộ Công Thương) cho biết: pháp luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng liên quan cụ thể là các nội dung quy định của Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14, các nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Bộ luật Hình sự năm 2017 với điều 217 và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan. Các lưu ý đối với hàng dệt may của Việt Nam trong tuân thủ và vận dụng pháp luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được nêu ra tại hội thảo.
 
Các vấn đề lưu ý trong việc tuân thủ và vận dụng pháp luật cạnh tranh được đề cập đến các vấn đề như thị trường của một loại hàng hóa nhất định (thị trường riêng biệt), một sản phẩm cụ thể. Ngành dệt may Việt Nam xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm may mặc và nhập khẩu nguyên phụ liệu vì vậy phải lưu ý đến các thỏa thuận đối với nhập khẩu đầu vào như thỏa thuận với các nhà xuất khẩu vải và nguyên phụ liệu nhằm đẩy giá lên cao; thỏa thuận với các hãng tàu biển chở hàng nhằm tăng giá dịch vụ vận tải; các điều kiện giao dịch độc quyền hoặc tăng giá bán bất hợp lý của các doanh nghiệp cung cấp máy móc thiết bị… Cần tránh tham gia, thực hiện các hành vi thỏa thuận ấn định giá, phân chí thị trường, hạn chế sản lượng liên quan đến các quốc gia, khu vực xuất khẩu chính, gồm Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần tránh các thỏa thuận nhằm gian lận xuất xứ hàng hóa vì nó có thể dẫn việc ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp sản xuất trong nước phát triển kinh doanh. Cần ngăn chặn hành vi thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh.
 
Các lưu ý khi dự định tập trung kinh tế cần cẩn trọng với các giao dịch như mua lại, hợp nhất, sáp nhập, liên doanh. Theo khoản 1 Điều 10 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hành vi bị cấm là cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác về hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho người tiêu dùng. Theo đó, để phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải luôn có ý thức tuân thủ và vận dụng triệt để các chính sách pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi tham gia vào thị trường thế giới.
 
Quy tắc thực hiện xuất xứ và các kênh tiếp cận thông tin
 
Buổi chiều cùng ngày là các nội dung tập huấn chuyên sâu về xuất xứ hàng hóa đối với ngành hàng dệt may trong bối cảnh mới.
 
Bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phòng Xuất xứ hàng hóa - Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) chia sẻ về những quy tắc xuất xứ hàng dệt may để hưởng ưu đãi FTA và nhấn mạnh về các lưu ý trong thực hiện các quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may của Việt Nam. Các vấn đề cần lưu ý được nhắc đến gồm: Cơ chế chứng nhận xuất xứ; Cơ chế xác minh xuất xứ; Quy định/ nguyên tắc xuất xứ; Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR). Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải lưu ý đến công tác hậu kiểm trong xác minh xuất xứ hàng hóa. Vì thế, doanh nghiệp phải lưu lại toàn bộ hồ sơ chứng từ chứng minh xuất xứ hàng hóa để thực hiện hậu kiểm, đáp ứng yêu cầu khi thực hiện kiểm tra xuất xứ hàng hóa của doanh nghiệp, đảm bảo thực hiện thụ hưởng các chính sách từ FTA.
 
Để hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm, khai thác, xử lý thông tin thị trường dệt may trong nước và quốc tế nhằm đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa đối với ngành dệt may, bà Đinh Thị Bảo Linh – Phó giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (VITIC), giới thiệu và chia sẻ các nội dung về các nhóm thông tin, kênh thông tin để các doanh nghiệp tiếp cận, tìm hiểu phục vụ hoạt động của doanh nghiệp mình. Đối với ngành dệt may, thông tin liên quan được chia thành các nhóm như thông tin về sản xuất (xuất xứ); nghiên cứu thị trường; chính sách, quy định; thương mại; đối tác, đối thủ; logistic.
 

Bà Đinh Thị Bảo Linh - Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại chia sẻ về khai thác, xử lý thông tin thị trường dệt may trong nước và quốc tế nhằm đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa đối với ngành dệt may
 
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, mạng internet việc tiếp cận thông tin cũng dễ dàng hơn rất nhiều. Các kênh thông tin đa dạng như: kênh thông tin chính thống, chuyên ngành, các hiệp hội trong nước, quốc tế (Bulletins, magazine, websites, reports); các chương trình tập huấn, phổ biến quy định kết nối doanh nghiệp; các báo cáo nghiên cứu thị trường, ngành hàng; hội nghị, hổi thảo; cơ sở dữ liệu. Có thể kể đến một số kênh thông tin quốc tế như cổng thông tin về quy tắc xuất xứ của WTO, cổng thông tin về quy tắc xuất xứ của EU, thông tin về quy tắc xuất xứ của Hoa Kỳ, Hội đồng quốc gia và dệt may Trung Quốc…
 
Ngoài ra, VITIC cũng cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghiệp và thương mại. Hệ thống cơ sở dữ liệu của VITIC có nhiều nhóm thông tin, dữ liệu chính như thông tin và số liệu các mặt hàng dệt may bao gồm các dữ liệu tổng quan và chuyên sâu của từng ngành hàng của Việt Nam (tình hình sản xuất, tiêu thụ, tồn kho của cả nước và tại các tỉnh, thành… được cập nhật hàng tháng, hàng tuần). Các thông tin về doanh nghiệp tiêu biểu, thông tin về số liệu xuất nhập khẩu của Việt Nam (các dữ liệu chia theo từng mặt hàng, quốc gia xuất nhập khẩu, các thị trường. Thông tin và số liệu xuất nhập khẩu của Việt Nam và dữ liệu xuất nhập khẩu của các quốc gia trên thế giới (chủ yếu là các nước thành viên của WTO). Ngoài ra, các nhóm thông tin dữ liệu chính còn được chú trọng về hàng rào kỹ thuật của các quốc gia trên thế giới, nhất là các nước có quan hệ giao thương chính với Việt Nam. Các thông tin về cơ hội giao thương, đầu tư và về các chính sách, quy định trong và ngoài nước. Thông tin về các doanh nghiệp đối tác nước ngoài có hoạt động xuất nhập khẩu với Việt Nam…
 

Ông Phạm Xuân Hồng – Chủ tịch Hội Dệt may Thêu đan thành phố Hồ Chí Minh
 
Hội thảo diễn ra thành công tốt đẹp, thu hút đông đảo khách mời là các doanh nghiệp, khách tham quan triển lãm quan tâm tham dự.
 
PV.
Tạp chí Doanh nghiệp và Thương mại